|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST
Ngày 23 - 5 - 2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kim Niệm;
Bà Lê Thị Phương Dung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Thành Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 200/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Châu Thị Thiên L, sinh năm 1990; Địa chỉ: Số nhà H, tổ B, ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hoa T, sinh năm 1988. Địa chỉ: Số nhà A, thôn B, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Tạm trú: Số nhà H, tổ B, ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Châu Thị Thiên L trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông T chung sống với nhau năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương, việc chung sống của ông bà là hoàn toàn tự nguyện không ai ép buộc, được hai bên gia đình đồng ý và làm đám cưới theo phong tục tập quán. Thời gian đầu chung sống vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân mâu thuẫn do ông T không lo làm ăn, chơi bời và sống ly thân. Nay, bà xét thấy đời sống hôn nhân đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên làm đơn xin ly hôn với ông Nguyễn Hoa T
- Về con chung: Bà và ông T có 02 con chung tên Nguyễn Ngân K, sinh ngày 15/12/2012 và Nguyễn Bích P, sinh ngày 24/4/2015. Hiện các con đang sống với bà. Nếu ly hôn bà có nguyện vọng nuôi 02 con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Toà án giải quyết
Bị đơn ông Nguyễn Hoa T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông T vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của bà L.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký và việc chấp hành pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Châu Thị Thiên L đối với ông Nguyễn Hoa T; về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngân K, sinh ngày 15/12/2012 và Nguyễn Bích P, sinh ngày 24/4/2015 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, về nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án xin ly hôn mà bị đơn cư trú tại xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương và nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo giải quyết. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
[2] Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn bà Châu Thị Thiên L có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Hoa T đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên Tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Vì vậy, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Bà Châu Thị Thiên L và ông Nguyễn Hoa T là những người có đủ điều kiện kết hôn, chung sống với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương năm 2011 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên đơn cho rằng mâu thuẫn hai vợ chồng xảy ra lý do bị đơn không lo làm ăn, chơi bời và sống ly thân, hiện không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, do vậy nguyên đơn làm đơn xin ly hôn. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do cũng không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên HĐXX không có cơ sở để xem xét ý kiến của bị đơn.
Tại biên bản xác minh ngày 20/3/2024, đại diện UBND xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương cho biết mâu thuẫn gia đình giữa bà L và ông T như thế nào địa phương không nắm rõ, không có đơn yêu cầu địa phương hoà giải mâu thuẫn vợ chồng.
HĐXX xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn, bị đơn đã trầm trọng, tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và hiện đã sống ly thân. Nguyên đơn xin ly hôn là hoàn toàn tự nguyện và có căn cứ nên HĐXX chấp nhận cho nguyên đơn và bị đơn ly hôn theo quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, của hai con, bản sao giấy khai sinh xác định bà Châu Thị Thiên L và ông Nguyễn Hoa T có 02 con chung tên Nguyễn Ngân K, sinh ngày 15/12/2012 và Nguyễn Bích P, sinh ngày 24/4/2015 hiện tại đang sinh sống cùng bà L.
HĐXX xét thấy con tên tên K, P đã trên 7 tuổi, con có nguyện vọng ở với mẹ, ông T không có ý kiến về việc nuôi con nên HĐXX xem xét nguyện vọng của con để giao con cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về nội dung vụ án là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
[8] Về án phí sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Các Điều 9, 51, 56, 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Châu Thị Thiên L đối với bị đơn ông Nguyễn Hoa T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
1. Về hôn nhân: Bà Châu Thị Thiên L được ly hôn với ông Nguyễn Hoa T.
2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Ngân K, sinh ngày 15/12/2012 và Nguyễn Bích P, sinh ngày 24/4/2015 cho bà Châu Thị Thiên L trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Nguyễn Hoa T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, bà Châu Thị Thiên L cùng các thành viên trong gia đình không ai được cản trở ông Nguyễn Hoa T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì quyền lợi hợp pháp, chính đáng của con chưa thành niên, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có đơn yêu cầu phù hợp với quy định của pháp luật.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Châu Thị Thiên L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp trước đây theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án AA/2021/0005496 ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hiên |
Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 22/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly - Tho tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
