Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST

Ngày 22/4/2024

"V/v Ly hôn, xác định cha cho con"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Kiều

Bà Đàm Thị Thanh Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Nhật Lệ - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 77/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023 về việc: "Ly hôn, xác định cha cho con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: chị Hoàng Thị Linh C, sinh năm 1994; địa chỉ: khu E, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
  • Bị đơn: anh Chung Cheng T, sinh năm 1981; quốc tịch: Trung Quốc; địa chỉ: số C, ngõ F, đường I, xóm A, phường T, thị trấn T, huyện N, Đài Loan. Vắng mặt, đề nghị vắng mặt.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Đức T1, sinh năm 1986; địa chỉ: tổ A, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Hoàng Thị Linh C trình bày: chị và anh C1 Cheng Ta đăng ký kết hôn ngày 24/7/2019, tại Ủy ban nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn anh Chung C2 Ta về lại Đài Loan còn chị vẫn ở Việt Nam, do dịch bệnh C3 - 19 anh Chung C2 Ta không thể về Việt Nam đưa chị sang Đài Loan cùng chung sống. Từ khi anh Chung C2 Ta về nước đến nay, giữa anh chị dần xa cách, tình cảm không còn. Chị yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho chị được ly hôn anh Chung Cheng T. Về con chung: không có; không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong khoảng thời gian anh Chung Cheng T về Đài Loan, chị có quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Đức T1 và có 01 con chung (con gái), sinh ngày 02/5/2022 (Theo Giấy chứng sinh số 16673 ngày 02/5/2022 của Bệnh viện S), dự định đặt tên là Nguyễn Hoàng Bảo C4. Chị yêu cầu Tòa án xác định anh Nguyễn Đức T1 là cha của cháu dự định đặt tên là Nguyễn Hoàng Bảo C4, sinh ngày 02/5/2022 (Theo Giấy chứng sinh số 16673 ngày 02/5/2022 của Bệnh viện S).

* Tại bản tự khai của bị đơn anh Chung Cheng T (đã được hợp pháp hóa lãnh sự tại Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Việt Nam tại Đ ngày 08/3/2024), thể hiện: anh Chung Cheng T và chị Hoàng Thị Linh C đăng ký kết hôn ngày 24/7/2019, tại Ủy ban nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, anh Chung C2 Ta trở về Đài Loan, chị Hoàng Thị Linh C vẫn ở Việt Nam, do dịch bệnh Virus Corona năm 2019 nên anh Chung C2 Ta không thể về Việt Nam làm thủ tục đưa chị Hoàng Thị Linh C đến Đài Loan để chung sống với nhau được và chị Hoàng Thị Linh C cũng không đến Văn phòng Bộ N tại Hà Nội để xin các giấy tờ liên quan. Từ thời điểm đó đến nay, vì lịch trình công việc bận rộn nên anh Chung C2 Ta không đưa chị Hoàng Thị Linh C sang Đài Loan, mối quan hệ dần trở nên xa cách và tình cảm cũng không còn. Anh Chung C2 T đồng ý ly hôn với chị Hoàng Thị Linh C và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết. Về con chung, tài sản chung: không có. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh cho phép anh Chung C2 Ta vắng mặt tất cả các cuộc làm việc trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án.

* Tại bản tự khai và trong quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đức T1 trình bày: anh và chị Hoàng Thị Linh C có tình cảm và quan hệ với nhau từ khoảng năm 2021, anh chị có một con gái chung dự định đặt tên là Nguyễn Hoàng Bảo C4, sinh ngày 02/5/2022 (Theo Giấy chứng sinh số 16673 ngày 02/5/2022 của Bệnh viện S). Chị Hoàng Thị Linh C yêu cầu Tòa án xác định anh là cha của con gái dự định đặt tên là Nguyễn Hoàng Bảo C4, sinh ngày 02/5/2022 (Theo Giấy chứng sinh số 16673 ngày 02/5/2022 của Bệnh viện S), anh đồng ý, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị Linh C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị Linh C, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, xác định cha cho con”; bị đơn anh Chung C2 Ta mang quốc tịch Đài Loan, hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Căn cứ quy định tại khoản 1, 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Nguyên đơn chị Hoàng Thị Linh C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đức T1 đều vắng mặt tại phiên tòa và đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh Chung Cheng T đã gửi bản tự khai trình bày quan điểm và đề nghị được giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự và công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị Linh C và anh Chung C2 Ta đăng ký kết hôn ngày 24/7/2019, tại Ủy ban nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở tự nguyện là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, anh Chung C2 Ta về lại Đài Loan, còn chị Hoàng Thị Linh C vẫn ở Việt Nam. Do dịch bệnh C3 - 19, anh Chung C2 Ta không thể về Việt Nam làm thủ tục đưa chị Hoàng Thị Linh C đến Đài Loan để chung sống với nhau được và chị Hoàng Thị Linh C cũng không đến Văn phòng Bộ N tại Hà Nội để xin các giấy tờ liên quan. Từ khi anh Chung C2 Ta về nước đến nay, giữa chị Hoàng Thị Linh C và anh Chung C2 Ta không còn tồn tại quan hệ vợ chồng; chị Hoàng Thị Linh C xin ly hôn, anh Chung C2 Ta đồng ý. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy: chị Hoàng Thị Linh C và anh Chung C2 Ta không còn chung sống với nhau, vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần, không cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị Linh C đối với anh Chung Cheng T.

[2.2] Về con chung, tài sản chung: chị Hoàng Thị Linh C và anh Chung C2 Ta đều xác định là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.3] Về quan hệ xác định cha cho con: trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị Linh C và anh Chung Cheng T, theo chị Hoàng Thị Linh C trình bày: khoảng năm 2021, chị Hoàng Thị Linh C có quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Đức T1 và đã có với nhau 01 con gái dự định đặt tên con là Nguyễn Hoàng Bảo C4, sinh ngày 02/5/2022 (Theo Giấy chứng sinh số 16673 ngày 02/5/2022 của Bệnh viện S). Tại Phiếu kết quả phân tích AND ngày 17/12/2023 của Công ty Cổ phần D, thể hiện: anh Nguyễn Đức T1 và cháu gái dự định đặt tên là Nguyễn Hoàng Bảo C4, sinh ngày 02/5/2022 có mối quan hệ huyết thống Cha - Con. Chị Hoàng Thị Linh C yêu cầu Tòa án xác định anh Nguyễn Đức T1 là cha của cháu gái dự định đặt tên là Nguyễn Hoàng Bảo C4, sinh ngày 02/5/2022. Anh Nguyễn Đức T1 trình bày phù hợp với nội dung chị Hoàng Thị Linh C trình bày và đồng ý với yêu cầu xác định cha cho con của chị Hoàng Thị Linh C. Căn cứ quy định tại Điều 88 và Điều 89 Luật Hôn nhân Gia đình 2014, Hội đồng xét xử xét thấy tuy cháu gái dự định đặt tên là Nguyễn Hoàng Bảo C4, sinh ngày 02/5/2022 (Theo Giấy chứng sinh số 16673 ngày 02/5/2022 của Bệnh viện S) được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị Linh C và anh Chung C2 Ta nhưng chị Hoàng Thị Linh C và anh Chung C2 Ta đều xác định hai người không có con chung, căn cứ kết luận tại Phiếu kết quả phân tích AND ngày 17/12/2023 của Công ty Cổ phần D như nêu trên thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị Linh C về việc yêu cầu Tòa án xác định anh Nguyễn Đức T1 là cha của cháu gái dự định đặt tên là Nguyễn Hoàng Bảo C4, sinh ngày 02/5/2022.

[3] Về án phí: căn cứ khoản 1, 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 12; khoản 4 Điều 26 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Hoàng Thị Linh C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; đối với yêu cầu xác định cha cho con của chị Hoàng Thị Linh C được Tòa án chấp nhận nên anh Nguyễn Đức T1 phải chịu án phí xác định cha cho con sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 1,4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 88; Điều 89; khoản 2 Điều 101; Điều 102 và khoản 2 Điều 125 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điểm b khoản 1 Điều 12; khoản 4 Điều 26 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Linh C.

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị Linh C được ly hôn với anh Chung Cheng T.
  2. Về con chung, về tài sản chung: không có, chị Hoàng Thị Linh C và anh Chung C2 Ta không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Về quan hệ xác định cha cho con: xác định anh Nguyễn Đức T1, sinh năm 1986; nơi cư trú: tổ A, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh là cha đẻ của cháu gái dự định đặt tên là Nguyễn Hoàng Bảo C4, sinh ngày 02/5/2022, theo Giấy chứng sinh số 16673 ngày 02/5/2022 của Bệnh viện S.
  4. Về án phí:
    • Chị Hoàng Thị Linh C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005714 ngày 08/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh. Chị Hoàng Thị Linh C đã nộp đủ án phí.
    • Anh Nguyễn Đức T1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí xác định cha cho con sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho: chị Hoàng Thị Linh C và anh Nguyễn Đức T1 biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; anh Chung C2 Ta biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, xác định cha cho con

  • Số bản án: 22/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, xác định cha cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, xác nhận cha cho con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger