|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 22/2024/HS-ST Ngày: 22-4-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Văn Phú Vinh |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Phan Tấn Lãm; bà Nguyễn Thị Mùa |
| Thư ký phiên tòa: | Ông Nguyễn Ngọc Thanh - Thư ký Tòa án. |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tham gia phiên tòa: | Ông Đỗ Văn Hằng - Kiểm sát viên. |
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐ-XX ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Huỳnh Văn T (tên gọi khác: không), sinh năm 1992, tại Bình Phước; nơi cư trú: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn K, sinh năm 1958 và bà Bùi Thị B, sinh năm 1958; bị cáo có vợ là bà Võ Kiều O, sinh năm 1996 và 01 người con, sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14 tháng 01 năm 2024 đến ngày 17 tháng 01 năm 2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay và bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Trần Quốc H (tên gọi khác: không), sinh năm 1976, tại Bình Phước; nơi cư trú: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc Đ, sinh năm 1954 và bà Trần Thị H1, sinh năm 1957; bị cáo có vợ là bà Huỳnh Thị Lệ T1, sinh năm 1980 và 02 người con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14 tháng 01 năm 2024 đến ngày 17 tháng 01 năm 2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay và bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Vi Đ1 (tên gọi khác: Không), sinh năm 1974, tại Bình Phước; nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi D (đã chết) và bà Trương Thị T2 (đã chết); bị cáo có vợ là bà Trương Huỳnh N, sinh năm 1977 và 03 người con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14 tháng 01 năm 2024 đến ngày 17 tháng 01 năm 2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay và bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Nguyễn Văn X (tên gọi khác: không), sinh năm 1969, tại Bình Phước; nơi cư trú: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn C (đã chết) và bà Trần Thị C1( đã chết); bị cáo có vợ là bà Vũ Thị C2, sinh năm 1972 và 03 người con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14 tháng 01 năm 2024 đến ngày 17 tháng 01 năm 2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay và bị cáo có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Bùi Đình T3 (tên gọi khác: Không), sinh năm 1965, tại Bình Phước; nơi cư trú: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đình H2 (đã chết) và bà Đoàn Thị X1 (đã chết); bị cáo có vợ là bà Trương Hồng D1, sinh năm 1979 và 04 người con, lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14 tháng 01 năm 2024 đến ngày 17 tháng 01 năm 2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay và bị cáo có mặt tại phiên tòa.
6. Họ và tên: Đỗ Ngọc T4 (tên gọi khác: Không), sinh năm 1977, tại Bình Phước; nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không rõ) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1955; bị cáo có vợ là bà Huỳnh Thị Mỹ H3, sinh năm 1982 và 02 người con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14 tháng 01 năm 2024 đến ngày 17 tháng 01 năm 2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay và bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến: Bà Hoàng Thị H4, sinh năm 1992; cư trú: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Các cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Chiều ngày 14 tháng 01 năm 2024, Huỳnh Văn T, Trần Quốc H, Vi Đ1, Đỗ Ngọc T4 cùng đến nhà bà Hoàng Thị H4 ở thôn C, xã B, huyện B để hát karaoke. Trong lúc hát thì T rủ H, Đ1, T4 đánh bạc thì tất cả đồng ý. Sau đó, T đi ra tiệm tạp hóa ở gần đó mua một bộ bài tây loại 52 lá rồi quay lại cùng với H, Đ1, T4 đánh bài cào liêng thắng thua bằng tiền. Một lúc sau, Bùi Đình T3 và Nguyễn Văn X đi đến nhà bà H4 để chơi và thấy đang đánh bài thì T3, X ngồi vào cùng đánh với T, H, Đ1 và T4 nhằm sát phạt nhau để hưởng lợi. T, H, Đ1, T4, T3 và X đánh bài đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện B phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật, gồm 52 lá bài tây; thu giữa chiếu bạc số tiền 170.000 đồng; trước vị trí ngồi và trên người T, H, Đ1, T4, T3, X với tổng số tiền là 8.470.000 đồng.
Hình thức đánh bạc như sau: Trước khi chia bài người chơi đặt tiền cược 20.000 đồng (gọi là tiền đường), sau đó người làm cái sử dụng 01 bộ bài tây loại 52 lá chia đều cho những người chơi mỗi người 03 lá bài. Nếu người chơi thấy bài mình là lớn nhất và có thể thắng bán bài đó thì người chơi sẽ cân hoặc thêm số tiền đặt cược tùy ý nhưng không quá 300.000 đồng, còn ngược lại người chơi thấy bài mình nhỏ thì có thể úp bài và không theo ván bài đó. Người thắng sẽ được lấy toàn bộ số tiền người chơi đã đặt cược ván đó. (Tính điểm theo quy ước: Sáp lớn hơn Liêng, L1 lớn hơn Ba cào, Ba cào lớn hơn 09 điểm. Sáp là ba quân bài giống nhau theo thứ tự lớn dần từ Sáp hai đến S (Á), L1 là ba quân bài tạo thành một sảnh trong đó theo thứ tự lớn dần từ một, hai, ba đến Q, K, A (Át), ba cào là gồm một quân bài tây bất kỳ và hai quân bài tây giống nhau. Nếu không có S, L1 và Ba cào thì tính điểm tức cộng số điểm của ba lá bài lấy thứ tự từ số lẻ của cả ba lá bài, cao nhất là 09 và nhỏ nhất là 0 điểm; trong đó các quân bài từ “10” đến “K” được tính là 0 điểm).
Qúa trình điều tra xác định số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau:
- Huỳnh Văn T đem theo 2.900.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt T đang thua, thu giữ trước vị trí ngồi và người Tâm số tiền 2.480.000 đồng;
- Vi Định đem theo 1.150.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt quả tang Đ1 đang thua, thu giữ trước vị trí ngồi của Đ1 số tiền 650.000 đồng;
- Trần Quốc H đem theo 1.700.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt H đang thắng, thu giữ trên người và trước vị trí ngồi của H số tiền 3.270.000 đồng;
- Đỗ Ngọc T4 đem theo 950.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt T4 đang thua, thu giữ trước vị trí ngồi của T4 số tiền 800.000 đồng;
- Bùi Đình T3 đem theo 960.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt T3 đang thua, thu giữ trên người và trước vị trí ngồi của T3 số tiền 650.000 đồng;
- Nguyễn Văn X đem theo 980.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt X đang thua, thu giữ trên người và trước vị trí ngồi của X số tiền 620.000 đồng;
Như vậy, số tiền các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc là 8.640.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 52 lá bài tây là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;
- Đối với số tiền 8.640.000 đồng các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc cần tịch thu sung quỹ nhà nước;
Tại Bản cáo trạng số 22/CTr-VKSBGM ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố các bị cáo T, H, Đ1, T4, T3, X về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ Luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T từ 12-15 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24-30 tháng.
- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử hình phạt bị cáo Trần Quốc H từ 09-12 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18-24 tháng.
- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử hình phạt bị cáo Vi Đ1 từ 09-12 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18-24 tháng.
- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử hình phạt bị cáo Nguyễn Văn X từ 09-12 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18-24 tháng.
- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử hình phạt Bùi Đình T3 từ 09-12 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18-24 tháng.
- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử hình phạt Đỗ Ngọc T4 từ 09-12 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18-24 tháng.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị xử phạt mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng – 15.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 22/CTr-VKSBGM ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
[2.1] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa thấy phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ tài sản, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Thấy phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nhằm mục đích thu lợi bất chính từ việc đánh bạc, nên chiều ngày 14 tháng 01 năm 2024, các bị cáo T, Đ1, H, T4, T3 và X đã cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức cào liêng thắng thua bằng tiền tại nhà của bà H4 ở thôn C, xã B, huyện B. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 8.640.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[2.2] Do đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội. Cụ thể là trong quá trình hát Karaoke tại nhà bà H4 thì bị cáo T rủ các bị cáo H, Đ1, T4 đánh bạc thì tất cả đồng ý. Sau đó, bị cáo T đi ra tiệm tạp hóa ở gần đó mua một bộ bài tây loại 52 lá rồi quay lại cùng với các bị cáo H, Đ1, T4 đánh bài cào liêng thắng thua bằng tiền. Một lúc sau, bị cáo T3 và bị cáo X đi đến nhà bà H4 để chơi và thấy đang đánh bài thì cùng tham gia với các bị cáo T, H, Đ1 và T4.
Quá trình điều tra, xác định số tiền mà các bị cáo mang theo và sử dụng vào việc đánh bạc như sau:
- Bị cáo T đem theo 2.900.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, bị cáo đang thua, thu giữ trước vị trí ngồi và người của bị cáo số tiền 2.480.000 đồng;
- Bị cáo Đ1 đem theo 1.150.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt quả tang bị cáo đang thua, thu giữ trước vị trí ngồi của bị cáo số tiền 650.000 đồng;
- Bị cáo H đem theo 1.700.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, bị cáo đang thắng, thu giữ trên người và trước vị trí ngồi của bị cáo số tiền 3.270.000 đồng;
- Bị cáo T4 đem theo 950.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, bị cáo đang thua, thu giữ trước vị trí ngồi của bị cáo số tiền 800.000 đồng;
- Bị cáo T3 đem theo 960.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, bị cáo đang thua, thu giữ trên người và trước vị trí ngồi của bị cáo số tiền 650.000 đồng;
- Bị cáo X đem theo 980.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, bị cáo đang thua, thu giữ trên người và trước vị trí ngồi của bị cáo số tiền 620.000 đồng;
Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, trong quá trình thực hiện tội phạm, các bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Mặc dù biết rõ việc “Đánh bạc” là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân, muốn có tiền một cách nhanh chóng mà các bị cáo đã thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của khu dân cư. Hành vi đó còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm chiếm đoạt tài sản để có tiền đánh bạc. Vì vậy tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo T, H, Đ1, T4, T3, X về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, cần xử các bị cáo một mức án nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn mà chỉ cần áp dụng hình phạt là án treo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.
[3] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo có nghề nghiệp ổn định nên cần áp dụng.
[4] Về xử lý vật chứng:
Đối với 52 lá bài tây là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 8.640.000 đồng các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[5] Đối với bà H4, do không biết các bị cáo đánh bạc thắng thua bằng tiền tại nhà của mình, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề để xử lý.
[6] Đối với lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tại phiên tòa thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Văn T (tên gọi khác: Không); Trần Quốc H (tên gọi khác: Không); Vi Đ1 (tên gọi khác: Không); Nguyễn Văn X (tên gọi khác: Không); Đỗ Ngọc T4 (tên gọi khác: Không); Bùi Đình T3 (tên gọi khác: Không) phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt:
- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên xử hình phạt chính đối với bị cáo Huỳnh Văn T 12 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án.
Tuyên giao bị cáo cho UBND xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Tuyên xử hình phạt bổ sung đối với bị cáo Huỳnh Văn T số tiền là 10.000.000 đồng.
- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên xử hình phạt chính đối với bị cáo Trần Quốc H 09 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án.
Tuyên giao bị cáo cho UBND xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Tuyên xử hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Quốc H số tiền là 10.000.000 đồng.
- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên xử hình phạt chính đối với bị cáo Vi DD1 09 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án.
Tuyên giao bị cáo cho UBND xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Tuyên xử hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vi Đ2 số tiền là 10.000.000 đồng.
- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên xử hình phạt chính đối với bị cáo Nguyễn Văn X 09 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án.
Tuyên giao bị cáo cho UBND xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Tuyên xử hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn X số tiền là 10.000.000 đồng.
- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên xử hình phạt chính đối với bị cáo Đỗ Ngọc T4 09 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án.
Tuyên giao bị cáo cho UBND xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Tuyên xử hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đỗ Ngọc T4 số tiền là 10.000.000 đồng.
- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên xử hình phạt chính đối với bị cáo Bùi Đình T3 09 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án.
Tuyên giao bị cáo cho UBND xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Tuyên xử hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Đình T3 số tiền là 10.000.000 đồng.
3. Về vật chứng của vụ án:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tuyên tịch thu tiêu hủy đối với 52 lá bài tây.
- Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với số tiền 8.640.000 đồng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0008885 ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập).
4. Về án phí HSST: Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Các bị cáo Huỳnh Văn T; Trần Quốc H; Vi Đ1; Nguyễn Văn X; Đỗ Ngọc T4; Bùi Đình T3, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VĂN PHÚ VINH |
9
Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 22/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Văn Tâm và đồng phạm "phạm tội đánh bạc"
