TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21/6/2024 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình” | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Gia Phượng và ông Nguyễn Tiến Dũng
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 79/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 20124.
Giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lã Thị Kim T, sinh năm 2004.
Nơi đăng ký HKTT: Khu A, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Nơi ở hiện nay: Thôn H, xã Y, huyện L, tỉnh Yên Bái.
Bị đơn: Anh Cao Chí T1, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Khu A, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
(Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T1 có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Lã Thị Kim T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T1 tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ vào ngày 14/11/2022. Thời gian đầu, vợ chồng T sống hạnh phúc được thời gian ngắn, sau đó xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên hay cãi, chửi nhau, anh T1 đánh chị. Do mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên 2 vợ chồng đã ly thân cuối năm 2023. Vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, chị xác định tình cảm vợ chồng thực sự không còn. Vì vậy, chị đề nghị xử cho chị được ly hôn anh T1.
Về con chung: Chị xác định có 01 con chung là Cao Gia K, sinh ngày 26/11/2023. Khi ly hôn chị T xin được trực tiếp nuôi con chung và tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị T xác định không có và không yêu cầu giải quyết.
2. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Cao Chí T1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, điều kiện kết hôn, quá trình chung sống như chị T trình bày là đúng. Sau khi kết hôn thì vợ chồng thuê nhà ở Hà Nội để làm ăn, mọi thứ chi tiêu do tôi chi trả vì chị T không có việc làm. Vợ chồng hạnh phúc đến ngày 06/12/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị Thủy sinh con nên mẹ vợ của anh ở cùng chăm sóc nhưng không trông cháu, anh có nói mẹ vợ nhưng lại xảy ra mâu thuẫn vợ chồng do chị T bênh vực mẹ đẻ. Vợ chồng sống ly thân từ ngày 06/12/2023 đến nay, con chung đang ở với mẹ (chị T). Do bận công việc nên anh không có thời gian về thăm con chung. Nay chị T xin ly hôn thì anh không nhất trí vì anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn.
Về con chung: Anh xác định có 01 con chung như chị T trình bày. Nếu phải ly hôn thì anh nhất trí để chị T được trực tiếp nuôi dưỡng con.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Anh T1 xác định không có và không yêu cầu giải quyết.
3. Tòa án đã xác minh tình trạng hôn nhân vợ chồng được đại diện chính quyền địa phương và khu dân cư cung cấp: Qua thông tin từ gia đình anh T1 thì vợ chồng anh T1, chị T có mâu thuẫn từ cuối năm 2023, trong gia đình có xảy ra xô sát giữa mẹ đẻ chị T và mẹ đẻ anh T1. Cuộc sống vợ chồng mâu thuẫn nên chị T chuyển về nhà bố mẹ đẻ tại huyện L, tỉnh Yên Bái sống và ly thân từ đó đến nay, không thấy chị T về nhà anh T1 nữa. Anh chị có 01 con chung và đang ở với chị T. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Thẩm phán, thư ký, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình thu thập, đánh giá chứng cứ từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án. Tại phiên tòa thành phần Hội đồng xét xử đúng với quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị hướng xử lý giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh T1. Về con chung: Đề nghị áp dụng các Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Giao cháu Cao Gia K, sinh ngày 26/11/2023 cho chị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Chị T tự nguyện không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con cần chấp nhận.
Quan hệ về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Hai bên xác định không có và không yêu cầu giải quyết.
Về án phí ly hôn, chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị Lã Thị Kim T có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị xin ly hôn với anh Cao Chí T1. Căn cứ khoản 1, Điều 28 và điểm a, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Toà án đã cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay chị T vắng mặt, nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ngày 14/11/2022, chị Lã Thị Kim T và anh Cao Chí T1 cưới, đã đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ, đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cũng một phần từ phía gia đình 2 bên. Từ cuối năm 2023 đến nay anh, chị đã sống ly thân, không quan tâm, chăm sóc nhau. Bên cạnh đó, Tòa án cũng đã có biên bản làm việc, xác minh với đại diện khu dân cư và chính quyền địa phương xã C đã thể hiện quan điểm là vợ chồng anh T1 và chị T có mâu thuẫn. Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Bản thân anh T1 cho rằng anh vẫn còn tình cảm với chị T. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh T1 là phù hợp.
[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị T, anh T1 đều xác định có 01 con là Cao Gia K, sinh ngày 26/11/2023. Hiện nay cháu K còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi và đang ở với chị T. Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi...”. Do vậy khi ly hôn cần giao con chung cho chị T được trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến khi thành niên, điều đó cũng phù hợp với ý chí của anh T1. Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con cần chấp nhận.
[4] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Hai bên đều xác nhận không có và không yêu cầu giải quyết.
[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Chị Lã Thị Kim T và anh Cao Chí T1 được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, 57, 58, khoản 3 Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lã Thị Kim T được ly hôn anh Cao Chí T1.
Về con chung: Xác nhận anh chị có 01 con là Cao Gia K, sinh ngày 26/11/2023. Sau khi ly hôn giao con chung cho chị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến khi thành niên. Chị T tự nguyện không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản chung; Nợ chung; Công sức đóng góp: Chị T và anh T1 đều xác nhận không có và không yêu cầu giải quyết.
Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lã Thị Kim T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Xác nhận chị T đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001572 ngày 02/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Phú Thọ. Nay được chuyển thành án phí.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt được quyền kháng cáo, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bán án được niêm yết nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuấn Anh |
Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 22/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lã Thị Kim Thủy - Cao Chí Toại
