Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIỜ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 22/2024/HS-ST

Ngày: 21/06/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thụ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Nga
  2. Bà Võ Thị Bạch Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Quyên – Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 06 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Phạm Thị Bé P, sinh ngày: 02/12/1976; Tên gọi khác: Bé; Giới tính: Nữ; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: tổ C, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Cao đài; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 01/12; Con ông: Phạm Văn Mười B, sinh năm: 1942; Con bà: Võ Thị C, sinh năm: 1942; Chồng: Nguyễn Văn N, sinh năm: 1973; Con: có 02 người sinh năm: 1996 và 2000; Anh, chị, em: có 08 người, lớn nhất sinh năm: 1963, nhỏ nhất sinh năm 1984; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/10/2023 đến ngày 27/10/2023, bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/10/2023 đên nay.

  1. Họ và tên: Ngô Thị H, sinh ngày: 30/8/1956; Giới tính: Nữ; Nơi sinh: Tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Tổ B, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông: Ngô Văn T (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị N1 (đã chết); Chồng: Nguyễn Văn L, sinh năm: 1950; Con: Có 05 người, sinh năm 1979, 1983, 1985, 1988, 1992; A, chị, em: có 06 người em, lớn nhất sinh năm: 1959, nhỏ nhất sinh năm 1975; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/10/2023 đến nay.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Hồ Ngọc T1; sinh năm: 1974; Địa chỉ: tổ H, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  2. Đặng Thị Cẩm H1; sinh năm: 1986; Địa chỉ: tổ E, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  3. Trần Thị Hồng N2; sinh năm: 1987; Địa chỉ: tổ F, ấp A xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  4. Nguyễn Thị B1; sinh năm: 1966; Địa chỉ: tổ B, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  5. Nguyễn Văn Đ; sinh năm: 1962; Địa chỉ: A ấp P, P, C, Tỉnh Tiền Giang; Chỗ ở: tổ B, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  6. Nguyễn Thị N3; Địa chỉ: tổ B, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  7. Nguyễn Văn D; sinh năm: 1970; Địa chỉ: 180/34/3/13 ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  8. Phạm Minh T2; sinh năm: 1995; HKTT: tổ B, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  9. Đặng Hoàng T3; sinh năm: 1990 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  10. Nguyễn Thị Anh T4; sinh năm: 1996 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Cùng địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Phan Văn H2; sinh năm: 1973; Địa chỉ: tổ A, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  2. Phạm Thúy H3; sinh năm: 1985; Địa chỉ: tổ E, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  3. Lê Thị H4; sinh năm: 1965; Địa chỉ: tổ E, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  4. Bùi Thị H5; sinh năm: 1947; Địa chỉ: tổ A, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  5. Nguyễn Thị Hồng N4; sinh năm: 1994; Địa chỉ: tổ H, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  6. Hồ Thị L1; sinh năm: 1963; Địa chỉ: tổ H, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ nguồn tin trình báo của nhân dân, khoảng 16 giờ 20 phút ngày 20/10/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C phối hợp cùng Công an xã A tiến hành kiểm tra nhà của Phạm Thị Bé P, tại tổ C, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại thời điểm kiểm tra phát hiện Phạm Thị Bé P đang thực hiện hành vi tổng hợp 04 tờ phơi đề, trong đó tờ phơi đề có ký hiệu số 01 là do Hồ Ngọc T1; sinh năm: 1974; HKTT: tổ H, ấp A, xã A, huyện C giao với số tiền 3.146.000 đồng. Tờ phơi đề có ký hiệu số 02 là do Đặng Thị Cẩm H1; sinh năm: 1986; HKTT: tổ E, ấp A, xã A, huyện C giao với số tiền 2.968.000 đồng. Tờ phơi đề có ký hiệu số 03 là do Trần Thị Hồng N2; sinh năm: 1987; HKTT: tổ F, ấp A xã A, huyện C mua các ô số đề với số tiền 1.904.000 đồng. Tờ phơi đề có ký hiệu số 04 là do Ngô Thị H; sinh năm: 1956; HKTT: tổ B, ấp A, xã A, huyện C giao với số tiền 9.351.000 đồng. Cơ quan điều tra đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Thị Bé P và áp giải về trụ sở làm việc, đồng thời triệu tập các đối tượng có liên quan để làm rõ.

Tại cơ quan điều tra Phạm Thị Bé P, Ngô Thị H và những người liên quan đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, qua đó xác định được Phạm Thị Bé P buôn bán tạp hóa tại địa chỉ nói trên, quá trình buôn bán từ khoảng tháng 5/2023 đến tháng 10/2023 P đã tổ chức đánh bạc bằng hình thức bán và thầu các ô số đề do người khác bán dựa trên kết quả của các xổ số miền nam, hàng ngày P sẽ bán và nhận phơi đề của người khác bán qua điện thoại, đến gần kỳ quay xổ số thì tổng hợp các tờ phơi đề để tính toán tiền thắng thua sau kỳ quay xổ số. Người mua ô số đề được P trích lại hoa hồng 23% trên số tiền mua. Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 20/10/2023, khi P đang tổng hợp các ô số đề đã bán và nhận của người khác giao thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Trong các tờ phơi đề nói trên, tờ phơi đề có ký hiệu số 01 là do Hồ Ngọc T1 bán cho Nguyễn Thị Hồng N4 248.000 đồng; Bùi Thị H5 360.000 đồng, Hồ Thị L1 204.000 đồng; bản thân T1 tự mua các ô số đề với số tiền 2.334.000 đồng, tổng số tiền trong tờ phơi đề số 01 giao cho P là 3.146.000 đồng. Tờ phơi đề ký hiệu số 02 là do Đặng Thị Cẩm H1 bán cho Phạm Thúy H3 1.200.000 đồng; Lê Thị H4 168.000 đồng; bản thân H3 tự mua các ô số đề với số tiền 1.600.000 đồng, tổng số tiền trong tờ phơi đề ký hiệu số 02 giao cho P là 2.968.000 đồng. Tờ phơi đề ký hiệu số 03 là do Trần Thị Hồng N2 mua với tổng số tiền 1.904.000 đồng. Tờ phơi đề ký hiệu số 04 là do Ngô Thị H bán cho Nguyễn Thị N3 168.000 đồng; Nguyễn Thị B1 540.000 đồng, Phan Văn H2 720.000 đồng, Nguyễn Văn Đ 2.300.000 đồng, còn các ô số đề khác bán cho người mua là khách vãng lai nên H không biết họ tên, địa chỉ của họ, tổng số tiền trong tờ phơi đề ký hiệu số 04 Ngô Thị H giao cho P là 9.351.000 đồng. Ngoài 04 tờ phơi đề và những người mua nói trên, còn có Đặng Hoàng T3 (là con rể của P) bán ô số đề cho Phan Minh T5 1.080.000 đồng; Nguyễn Văn D 350.000 đồng, tổng số tiền T3 bán ô số đề là 1.430.000 đồng, nhưng T3 tổng hợp phơi đề vào điện thoại di động với số tiền 890.000 đồng, rồi nhắn tin cho vợ là Nguyễn Thị Anh T4, sau đó T4 chuyển tin nhắn phơi đề cho P để hưởng hoa hồng, còn 540.000 đồng T3 giữ lại để thắng thua trực tiếp với người mua.

* Về vật chứng thu giữ và kết quả xác minh, xử lý vật chứng:

- Vật chứng thu khi bắt người phạm tội quả tang.

  • 01 quyển tập học sinh nhãn hiệu Tiến Phát, bên trong có 04 tờ giấy ghi các ô số đề được ký hiệu theo thứ tự 01, 02, 03, 04.
  • 01 điện thoại di động Iphone S màu vàng đồng, đã qua sử dụng,
  • 01 Máy tình hiệu Casio, đã qua sử dụng.
  • 01 cây bút, mực viết màu đen, hiệu Vaso, đã qua sử dụng.

Vật chứng bị can và người liên quan giao nộp:

  • 18.799.000 đồng, trong đó Nguyễn Thị B1 giao nộp 540.000 đồng; Nguyễn Văn Đ1 giao nộp 2.300.000 đồng; Nguyễn Thị N3 giao nộp168.000 đồng; Ngô Thị H giao nộp 6.343.000 đồng; Đặng Thị Cẩm H1 giao nộp 2.968.000 đồng; Hồ Ngọc T1 giao nộp 3.146.000 đồng; Trần Thị Hồng N2 giao nộp 1.904.000 đồng; Nguyễn Văn D giao nộp 350.000 đồng; Phạm Minh T2 giao nộp 1.080.000 đồng;
  • Đặng Hoàng T3 giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím than, đã qua sử dụng; Nguyễn Thị Anh T4 giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu trắng, đã qua sử dụng.

Ngoài ra Ngô Thị H giao nộp số tiền 9.000.000 đồng, Đặng Thị Cẩm H1 giao nộp 80.000 đồng, Đặng Hoàng T3 giao nộp 1.050.000 đồng, Hồ Ngọc T1 giao nộp 160.000 đồng, tổng cộng là 10.290.000 đồng. Đây là tiền thu lợi bất chính từ việc bán ô số đề (theo lời khai của người nộp).

Vật chứng là 01 quyển tập học sinh nhãn hiệu Tiến Phát, bên trong có 04 tờ giấy ghi các ô số đề được ký hiệu theo thứ tự 01, 02, 03, 04 được lưu vào hồ sơ vụ án. Các vật chứng còn lại đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giờ để phục vụ công tác xét xử và thi hành án.

Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKS-H.CG ngày 10 tháng 05 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Phạm Thị Bé P1 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Ngô Thị H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Phạm Thị Bé P 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách đến 03 năm.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Ngô Thị H 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách đến 01 năm 0 6 tháng.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng; nội dung phân tích, luận tội của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, đồng thời cho rằng mình không bị oan và trong lời nói sau cùng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với tang vật của vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cũng như các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay, từ đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Đây là vụ án tổ chức đánh bạc và đánh bạc do Phạm Thị Bé PNgô Thị H thực hiện. Trong đó Phạm Thị Bé P đã có hành vi tổ chức đánh bạc bằng hình thức bán và nhận các tờ phơi đề do người khác bán cho trên 10 người trong cùng một lúc với tổng số tiền là 18.259.000 đồng. Ngô Thị H đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán các ô số đề cho dưới 10 người và giao phơi lại cho Phạm Thị Bé P với tổng số tiền 9.351.000 đồng. Hành vi của bị cáo Phạm Thị Bé P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hành vi của bị cáo Ngô Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo Phạm Thị Bị P2Ngô Thị H là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì động cơ vụ lợi, các bị cáo đã tham gia Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc bằng hình thức ghi số đề, sát phạt nhau được thua bằng tiền để tước đoạt tiền, tài sản của nhau, đã xâm phạm an toàn, trật tự công cộng. Hơn nữa, hành vi Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần xử lý các bị cáo với hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét cho các bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

  1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Thị Bé P tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện đang bị nhiều bệnh và phải điều trị hàng ngày. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo Ngô Thị H phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo là người cao tuổi, đồng thời là lao động chính trong gia đình để nuôi cháu nhỏ. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  1. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Bé P phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Phạm Thị Bé P 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 02 (hai) tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phạm Thị Bé P cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

  1. Tuyên bố bị cáo Ngô Thị H phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Ngô Thị H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Ngô Thị H cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
  • Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 quyển tập học sinh nhãn hiệu Tiến Phát, bên trong có 04 tờ giấy ghi các ô số đề được ký hiệu theo thứ tự 01, 02, 03, 04.
  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone S màu vàng đồng, đã qua sử dụng; 01 Máy tình hiệu Casio, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím than, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu trắng 01 điện thoại di động SamSung GALAXY A04S, màu hồng; 01 điện thoại Nokia, màu xanh; 01 điện thoại di động N5, màu xanh; 01 điện thoại di động OPPO, màu bạc; 01 điện thoại di động Sam Sung Galaxy 22, màu xanh, đã qua sử dụng.
  • Tịch thu, tiêu hủy 01 cây bút, mực viết màu đen, hiệu Vaso, đã qua sử dụng.
  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước 29.089.000 đồng (tiền Việt Nam).
  1. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Thị Bé P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng); Bị cáo Ngô Thị H được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
  2. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hợp lệ.
  3. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo Phạm Thị Bé P, Ngô Thị Hứa

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Thị Bạch Tuyết Lê Thị Nga Nguyễn Văn Thụ
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Bé P và đồng bọn phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger