TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2025/HS-ST Ngày: 29/12/2025. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Quang Mỹ
Bà Lục Thị Xinh
Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Du – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Nha - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên kết nối với điểm cầu thành phần tại trại tạm giam số 02 Công an tỉnh T, Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Duy Í, sinh ngày 08 tháng 10 năm 1980, tại tỉnh Thái Nguyên.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Q, xã V, tỉnh Thái Nguyên; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Duy Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị V; Vợ: Nguyễn Thị T, có 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không ; Nhân thân: Bản án số 75/HSST ngày 20/9/1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử phạt bị cáo 06 (sáu) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02 ngày 28/9/2020 của UBND xã K xử phạt bị cáo 1.000.000đ (một triệu đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản”, Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 154/QĐ-UBND của UBND xã K về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh T; có mặt tại điểm cầu thành phần.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Duy T1, sinh năm 1983. HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Q, xã V, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt tại điểm cầu trung tâm.
* Người tham gia tố tụng khác (tại điểm cầu thành phần):
- + Ông Hoàng Quốc H – Phó đội trưởng CSBV, Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh T. Có mặt;
- + Ông Hoàng Trường A - Cán bộ Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh T. Có mặt;
- + Ông Nguyễn Đình Đ – CSNV, Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh T. Có mặt;
- + Ông Hoàng Đức L – CSNV, Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh T. Có mặt;
- + Ông Đặng Quầy M – CSNV, Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh T. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 00 phút ngày 28/8/2025, Tổ công tác Công an xã C, tỉnh Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại thôn N, xã C, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Duy Í, sinh năm 1980, trú tại thôn Q, xã V, tỉnh Thái Nguyên đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ 01 (một) gói được gói bằng giấy hai mặt có nhiều chữ viết và số {bên trong có 05 (năm) gói nhỏ, trong đó 04 (bốn) gói nhỏ được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc; 01 (một) gói nhỏ được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, bên trong đều có chứa chất màu trắng lẫn màu hồng; 03 (ba) xi lanh và 02 (hai) lọ dung dịch {01 (một) lọ nhãn hiệu NOVOCAIN; 01 (một) lọ nhãn hiệu DIMEDROL) đều chưa qua sử dụng}, 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn đen xám, biển kiểm soát 97B1-35021 và 01 (một) chìa khóa xe mô tô, xe đã qua sử dụng.
Ngày 28/8/2025, Công an xã C, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Nguyễn Duy Í, kết quả xét nghiệm: Âm tính với ma túy. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an tỉnh T cân xác định khối lượng chất nghi vấn là ma túy thu giữ được của Nguyễn Duy Í, xác định: Chất bột màu trắng lẫn màu hồng trong phong bì ký hiệu “I” có khối lượng là 0,669g (không phẩy sáu sáu chín gam), niêm phong vào phong bì ký hiệu “GĐ” gửi giám định.
Ngày 29/8/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, công trình phụ cận của Nguyễn Duy Í, tại thôn Q, xã V, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả khám xét, không thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật.
Kết luận giám định số 258/KL-KTHS ngày 05/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng lẫn màu hồng trong phong bì ký hiệu GĐ gửi giám định là ma túy, loại Heroine và loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu chất trong phong bì ký hiệu GĐ là 0,669g (không phẩy sáu sáu chín gam).
Quá trình điều tra, truy tố Nguyễn Duy Í khai nhận: Khoảng 09 giờ 00 ngày 28/8/2025, Nguyễn Duy Í điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn đen xám, biển kiểm soát 97B1 - 350.21 đi từ nhà thuộc thôn Q, xã V, tỉnh Thái Nguyên đi xuống khu vực phường Đ, tỉnh Thái Nguyên, để tìm mua ma túy. Khi đi đến khu vực phường Đ, Nguyễn Duy Í gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không rõ tên, tuổi, địa chỉ, Í đã hỏi và mua được 01 (một) gói được gói bằng giấy hai mặt có nhiều chữ viết và số, bên trong có 05 (năm) gói nhỏ ma túy với số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng). Sau khi mua được ma túy lu cất vào trong túi quần phía sau bên phải và điều khiển xe mô tô đi vào hiệu thuốc mua 03 (ba) xi lanh và 02 (hai) lọ dung dịch với giá 8.000đ (tám nghìn đồng), mua xong Í cất vào túi áo phía trước bên phải rồi điều khiển xe đi về nhà thì bị tổ công tác Công an xã C, tỉnh Thái Nguyên kiểm tra phát hiện thu giữ số ma túy, xi lanh, nước cất vừa mua được. Nguyễn Duy Í khai mục đích đi mua ma túy là định để khi nào đi làm vàng mệt mỏi sẽ sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Cơ quan Công an bắt giữ.
Về vật chứng, tài sản tạm giữ trong vụ án, gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T22 bên trong là mẫu chất phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,608g (không phẩy sáu không tám gam); 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu VC bên trong có 01 (một) mảnh giấy hai mặt có nhiều chữ viết và số; 04 (bốn) mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu bạc; 01 (một) mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng cùng phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “I”; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “Il” bên trong có 03 (ba) xi lanh nhựa; 02 (hai) lọ dung dịch; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn đen xám, biển kiểm soát 97B1 - 350.21 và chìa khóa xe.
Cáo trạng số: 13/CT-VKS-KV7 ngày 11/12/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Thái Nguyên truy tố Nguyễn Duy Í về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Theo biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Duy T1 trình bày: Năm 2014, anh T1 có sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn đen xám, biển kiểm soát 97B1 - 350.21, đăng ký xe mang tên Nguyễn Duy T1. Ngày 28/8/2025, anh T1 có cho Nguyễn Duy Í (anh trai ruột) mượn xe đi tìm măng. Anh T1 không biết anh Í đã sử dụng chiếc xe mô tô của anh T1 đi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy. Anh T1 đã được Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T trả lại xe nên anh T1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Ngoài ra, anh T1 không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo Nguyễn Duy Í thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo xin HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng. Đề nghị HĐXX tuyên bố: Nguyễn Duy Í phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025, xử phạt: Nguyễn Duy Í từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 28/8/2025).
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về án phí: Miễn án phí cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T 22 bên trong là mẫu chất phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,608g (không phẩy sáu không tám gam) cùng phong bì, bao gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu VC bên trong có 01 (một) mảnh giấy hai mặt có nhiều chữ viết và số; 04 (bốn) mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu bạc; 01 (một) mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng cùng phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “I”; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “Il” bên trong có 03 (ba) xi lanh nhựa; 02 (hai) lọ dung dịch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự và có giá trị pháp lý làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Duy T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị cáo, đại diện Viện kiểm sát không ai đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) hoãn phiên tòa, hồ sơ vụ án thể hiện lời khai của anh T1 trong quá trình điều tra đã đầy đủ, việc anh T1 vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, HĐXX căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục xét xử.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Í đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ các chứng cứ trên, có cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 00 phút ngày 28/8/2025, tại khu vực đường thuộc thôn N, xã C, tỉnh Thái Nguyên Nguyễn Duy Í, sinh năm 1980, trú tại thôn Q, xã V, tỉnh Thái Nguyên đã có hành vi tàng trữ 05 (năm) gói ma túy, loại Heroine và loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,669 gam (không phẩy sáu sáu chín gam), mục đích là để khi nào đi làm vàng mệt thì sử dụng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Nội dung Điều 249 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định như sau:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
a)...i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.
...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
- Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát; của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Xét thấy Cáo trạng số 13/CT-VKS-KV7 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Thái Nguyên truy tố Nguyễn Duy Í về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 là có căn cứ. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt, về xử lí vật chứng, miễn án phí và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.
Xét đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Duy T1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường là tự nguyện và đúng quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân:
Bị cáo có nhân thân xấu (Bản án số 75/HSST ngày 20/9/1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử phạt bị cáo 06 (sáu) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02 ngày 28/9/2020 của UBND xã K xử phạt bị cáo 1.000.000đ (một triệu đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản”, Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 154/QĐ-UBND của UBND xã K về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy).
Về tình tiết giảm nhẹ:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Duy Q được Chủ tịch nước thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba, được Hội đồng cố vấn tặng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng nhất và hạng ba, được Hội đồng Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma tuý, không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập; do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T22 bên trong là mẫu chất phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,608g (không phẩy sáu không tám gam) cùng phong bì, bao gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu VC bên trong có 01 (một) mảnh giấy hai mặt có nhiều chữ viết và số; 04 (bốn) mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu bạc; 01 (một) mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng cùng phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “I”; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “Il” bên trong có 03 (ba) xi lanh nhựa; 02 (hai) lọ dung dịch là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Các vấn đề khác
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Í vào ngày 28/8/2025 tại khu vực phường Đ, tỉnh Thái Nguyên; do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ người này và cũng không quen biết, Cơ quan CSĐT không xác minh làm rõ được nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn đen xám, biển kiểm soát 97B1 - 350.21, đăng ký xe mang tên Nguyễn Duy T1 và 01 (một) chìa khóa xe. Quá trình điều tra đã xác định được chiếc xe mô tô thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Duy T1, sinh năm 1983, trú tại thôn Q, xã V, tỉnh Thái Nguyên; khi mượn xe mô tô bị cáo không nói cho anh T1 biết việc bị cáo sử dụng xe mô tô đi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 21/9/2025, Nguyễn Duy T1 có đơn xin lại xe. Ngày 24/11/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã trả lại xe cho anh Nguyễn Duy T1. HĐXX xét thấy việc trả chiếc xe mô tô trên của Cơ quan CSĐT cho anh Nguyễn Duy T1 - chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở khu vực đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo; bị cáo có đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp miễn án phí theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Í phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Í 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 28/8/2025).
Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án (thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án).
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Í 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 28/8/2025).
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T 22 bên trong là mẫu chất phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,608g (không phẩy sáu không tám gam) cùng phong bì, bao gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu VC bên trong có 01 (một) mảnh giấy hai mặt có nhiều chữ viết và số; 04 (bốn) mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu bạc; 01 (một) mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng cùng phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “I”; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “Il” bên trong có 03 (ba) xi lanh nhựa; 02 (hai) lọ dung dịch.
(Số lượng, hiện trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày ngày 12/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều Công an tỉnh T với Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 – Thái Nguyên).
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Duy Í.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Duy T1 có quyền kháng cáo phần bản án liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật/.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Hương Thành |
Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 22/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. 1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Íu phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". 2. Về hình phạt: 2.1. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Íu 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 28/8/2025).
