Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 – ĐẮK LẮK

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày: 09-12-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐẮK LẮK

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Duyên;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Bảy.
  2. Ông Phạm Ngọc Điều.

Thư ký phiên tòa: bà Võ Thị Cẩm Mỹ - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Ngọc Bảo Thi – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 –Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 31/10/2025 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 05/TB-HS ngày 20/11/2025, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hữu T, sinh ngày 10/6/1998, tại tỉnh Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk - tên gọi khác: không); nơi cư trú: thôn B, xã H, tỉnh Đắk Lắk; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1973 và bà Trần Thị T1, sinh năm: 1974; gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; vợ: Phan Thị Kim L, sinh năm: 2002, có 02 con, lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: ngày 30/3/2021, bị Công an thị xã Đ (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi ném đá vào nhà người khác (đã đóng phạt); ngày 14/8/2025, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 08/8/2025 tại Phân trại tạm giam Đông Hòa thuộc Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh Đ. Có mặt.

2. Nguyễn Khánh H1, sinh ngày 20/10/1997, tại tỉnh Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk - tên gọi khác: không); nơi cư trú: thôn P, xã H, tỉnh Đắk Lắk; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: lái xe; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn H2, sinh năm: 1973 và bà Huỳnh Thị Thu H3, sinh năm: 1976; gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; vợ, con: không; tiền án: Ngày 25/01/2022, bị Tòa án nhân thị xã Đông Hòa (cũ) xử phạt 02 năm tù về tội Cố ý gây thương tích theo Bản án số 04/2022/HS-ST, chấp hành xong ngày 17/11/2023; tiền sự: không. Nhân thân: ngày 16/4/2018, bị Công an thị xã Đ (cũ) xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm phạm sức khỏe người khác (đã đóng phạt); ngày 12/7/2021, bị Công an thị xã Đ (cũ) xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm phạm sức khỏe người khác (đã đóng phạt); ngày 21/8/2021, bị Công an thị xã Đ (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi tàng trữ cất giấu trong người, phương tiện giao thông các loại công cụ nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác (đã đóng phạt). Bị cáo Nguyễn Khánh H1 đang tại ngoại. Có mặt.

* Bị hại: ông Nguyễn Văn L1, sinh năm: 1985, nơi cư trú: khu phố T, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Ông Nguyễn Nhật H4, sinh năm: 2000, nơi cư trú: khu phố B, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
  • - Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1974, nơi cư trú: Khu phố C, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

  • - Ông Đinh Xuân T3, sinh năm: 1997, nơi cư trú: khu phố P, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
  • - Ông Diệp Văn N, sinh năm: 1995, nơi cư trú: thôn M, xã T, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 17/02/2025, Nguyễn Hữu T, Nguyễn Khánh H1 và Nguyễn Nhật H4 đến quán 24h của bà Nguyễn Thị T2 ở Khu phố C, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk để uống bia. Tại đây có Nguyễn Văn L1, Đinh Xuân T3 và Diệp Văn N cũng đang ngồi uống bia bàn bên cạnh tại quán. Đến khoảng 01 giờ 45 phút cùng ngày, do quen biết nhau nên H1 hỏi Đinh Xuân T3 là 02 người ngồi chung ở đâu thì L1 nói ở tù mới ra nên giữa H1 và L1 xảy ra mâu thuẫn, thách thức đánh nhau. Thấy vậy Nguyễn Hữu T dùng ly nhựa, vỏ lon bia S xanh, lọ nhựa ném về phía Lên nhưng không trúng, L1 cầm chìa khóa xe mô tô của L1 mang theo sẵn đánh Nguyễn Hữu T thì bị H1 dùng chân đạp trúng vào

người làm L1 ngã vào chậu cây cảnh của quán, L1 đứng dậy thì Nguyễn Hữu T cầm kéo mang theo sẵn định đánh L1 nhưng bị L1 cầm chìa khóa đánh làm rơi kéo xuống đường. H1 cầm ghế inox của quán đánh trúng vai phải của L1, còn Nguyễn Hữu T nhặt kéo lên cầm ở tay phải đứng đối diện đâm một cái trúng vào mu bàn tay trái của L1 gây thương tích, Hưng nhặt viên gạch 04 lỗ ném trúng vùng ngực của L1. Thấy tay L1 bị chảy máu nhiều nên Đinh Xuân T3, N đến can ngăn và đưa L1 đi cấp cứu.

Tại Bản kết luận giám định thương tích số 86/KLTTCT-PYPY ngày 08/4/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận tỷ lệ thương tích của Nguyễn Văn L1 là 11% do vật có cạnh sắc gây ra. Công văn số 10/CVGĐ-PY02 ngày 18/8/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận: Tổn thương phần mềm là 02% đánh giá cho sẹo mặt sau cổ tay xuống đến mu bàn tay kích thước (7,5x0,2)cm. Tổng tỷ lệ thương tích của Nguyễn Văn L1 là 13%.

Về dân sự: Nguyễn Văn L1 yêu cầu Nguyễn Hữu T và Nguyễn Khánh H1 bồi thường 80.000.000 đồng. T, H1 đã bồi thường 2.000.000 đồng, mỗi bị cáo 1.000.0000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 02/CT-VKSKV12 ngày 27/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk truy tố các bị cáo Nguyễn Hữu T và Nguyễn Khánh H1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • * Các bị cáo T và H1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố là đúng tội, xin được giảm nhẹ hình phạt.
  • * Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên truy tố theo cáo trạng số: 02/CT-VKSKV12 ngày 27/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu T và Nguyễn Khánh H1 phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tuyên phạt các bị cáo mức án như sau:
  1. Nguyễn Hữu T: áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2025.
  2. Nguyễn Khánh H1: áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ bắt thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự và Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của Nguyễn Văn L1, buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho bị hại các khoản gồm: chi phí điều trị, khám chữa bệnh

10.936.015 đồng; khoản thu nhập thực tế bị mất trong thời gian điều trị từ ngày 17/01/2025 đến ngày 28/01/2025 là 12 ngày và 30 ngày phục hồi chức năng, tổng cộng là 42 ngày với số tiền 6.235.404 đồng; tiền thuê phương tiện đi cấp cứu, tái khám 1.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần theo yêu cầu của bị hại 10.000.000 đồng tương ứng khoảng hơn 4 tháng lương cơ sở; tiền công chăm sóc trong thời gian 12 ngày với số tiền 1.781.544 đồng, tổng cộng 29.952.963 đồng; đã bồi thường 2.000.000 đồng; ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo H1, mỗi bị cáo phải chịu 50% trách nhiệm bồi thường, nên mỗi bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại số tiền 13.976.481 đồng.

- Về xử lý vật chứng, các tài liệu, đồ vật khác trong vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy: 01 chìa khóa xe có chiều dài 08cm, phần đế nhựa màu đen dài 3,5cm, trên phần đế này có diện hình tam giác đều dài 03cm, trên diện tam giác này có hình chữ N, cạnh viền tam giác này có gắn 01 vòng kim loại màu trắng đường kính 2,5cm; phần lưỡi khóa là kim loại màu trắng dài 4,5cm, trong đó phần kim loại có răng cưa dài 2,5cm; 01 cái kéo loại kéo y tế, bằng kim loại màu trắng, dài 16cm, trong đó lưỡi kéo thẳng dài 05cm có mũi nhọn sắc bén, phần tay cầm dài 11cm gồm 02 quai kéo hình elip, mỗi quai có đường kính lớn 03cm, đường kính nhỏ 02cm, thân kéo dài 08cm

- Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự theo quy định pháp luật.

  • * Các bị cáo T và H1 thống nhất về tội danh và mức hình phạt áp dụng mà Kiểm sát viên đã luận tội đối với bị cáo, không tranh luận, đối đáp gì.
  • * Bị hại đề nghị xem xét giải quyết bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật; không tranh luận đối đáp gì về mức hình phạt và mức bồi thường thiệt hại mà Kiểm sát viên đề nghị.
  • * Nói lời sau cùng: bị cáo T và H1 cùng xin được giảm nhẹ hơn mức hình phạt để được sớm về với gia đình, với cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo T, H1 và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến

hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đều có giá trị chứng minh.

[2] Về hành vi các bị cáo bị truy tố: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hữu T, Nguyễn Khánh H1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng; phù hợp với thời gian, địa điểm được trích từ camera ghi hình nơi xảy ra vụ việc các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội; Biên bản sơ đồ hiện trường nơi xảy ra sự việc; Kết luận giám định pháp y và các chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thu thập có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 17/02/2025, tại Khu phố C, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Hữu T và Nguyễn Khánh H1 dùng kéo, ghế inox, viên gạch là hung khí gây nguy hiểm đánh Nguyễn Văn L1 gây thương tích với tỷ lệ 13%.

Hành vi dùng hung khí nguy hiểm của các bị cáo T và H1 đã trực tiếp xâm phạm và làm thiệt hại đến sức khỏe của người khác mà pháp luật bảo vệ. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình đã gây ra; việc thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo xuất phát từ việc thách thức đánh nhau giữa các bị cáo và bị hại; bị hại Lên chủ động thách thức đánh nhau, rượt đánh và đánh trả các bị cáo. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk truy tố các bị cáo Nguyễn Hữu T, Nguyễn Khánh H1 phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, không áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội có tính chất côn đồ” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo biết rõ hành vi dùng kéo, ghế inox, gạch là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật với lỗi cố ý trực tiếp. Vì mâu thuẫn trong giao tiếp (nói chuyện), các bị cáo đã thách thức đánh nhau với bị hại, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, gây tổn hại 13% thương tích cho bị hại Lên. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bất chấp quy định của pháp luật đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, nên cần phải xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi của các bị cáo gây ra.

[4] Về vị trí, vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công và cấu kết chặt chẽ với nhau khi thực hiện hành vi phạm tội. Trong đó, bị cáo T đóng vai trò chủ yếu, là người khởi xướng và trực tiếp dùng ly nhựa, vỏ lon bia S xanh, lọ nhựa ném về phía bị cáo L1 – là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc thách thức đánh nhau giữa các bị cáo với bị hại; đồng thời, bị cáo T là người cầm kéo đâm vào mu bàn tay trái, gây ra toàn bộ thương tích 13% cho cho bị hại; bị cáo H1 khi thấy bị cáo T gây mâu thuẫn thách thức, thấy T và L1 đánh nhau không những không can ngăn mà bị cáo H1 còn dùng chân đạp trúng vào người làm L1 ngã vào chậu cây cảnh của quán (khi L1 rượt đuổi đánh T), sau đó dùng ghế inox đánh trúng vai phải và dùng gạch ném trúng ngực của L1; hành vi của bị cáo H1 tuy không gây thương tích cho bị hại L1 nhưng bị cáo H1 cùng ý chí thống nhất với bị cáo T thách thức đánh nhau, gây thương tích cho L1 nên phải cùng chịu trách nhiệm hình sự về thương tích 13% mà bị cáo T gây ra cho L1, là đồng phạm với vai trò là người thực hành.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

[5.1] Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo T có nhân thân xấu, bị cáo đã từng có hành vi ném đá vào nhà người khác, bị Công an thị xã Đ (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng vào ngày 13/4/2021, bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi cố ý gây thương tích. Ngoài ra, ngày 14/8/2025, bị cáo T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Điều này cho thấy bị cáo T coi thường pháp luật, thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo rất kém.

[5.2] Bị cáo H1 có nhân thân xấu 03 lần bị xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể: ngày 16/4/2018, bị Công an thị xã Đ (cũ) xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm phạm sức khỏe người khác; ngày 12/7/2021, bị Công an thị xã Đ (cũ) xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm phạm sức khỏe người khác; ngày 21/8/2021, bị Công an thị xã Đ (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi tàng trữ cất giấu trong người, phương tiện giao thông các loại công cụ nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác. Ngoài ra, bị cáo H1 trước đó đã bị xử phạt 02 năm tù về tội Cố ý gây thương tích theo Bản án số 04/2022/HS-ST ngày 25/01/2022 của Tòa án nhân thị xã Đông Hòa (cũ), chấp hành xong hình phạt tù vào ngày

17/11/2023, chưa được xoá án tích nên thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi cố ý gây thương tích là thể hiện sự coi thường pháp luật, thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo rất kém.

[5.3] Các bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại 2.000.000 đồng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo T có thời gian tham gia và hoàn thành nghĩa vụ quân sự; các bị cáo đã chủ động đến gặp và mong muốn được bồi thường thêm cho bị hại nhưng bị hại L1 không nhận (được bị hại thừa nhận tại phiên toà); các bị cáo phạm tội xuất phát từ hành vi thách thức chủ động đánh nhau của bị hại L1 và bị hại L1 chủ động đánh trả, rượt đuổi đánh T, sau đó rượt đuổi đánh H1 – là tình tiết khác của tình tiết giảm nhẹ. Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo và áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T, bị cáo H1 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với các bị cáo.

[6] Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt các bị cáo T, H1 mức án tương xứng với vai trò, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của mỗi bị cáo gây ra trên cơ sở xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong đó, xử phạt bị cáo T mức án nghiêm khắc hơn bị cáo H1. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt và cần cách ly các bị cáo T, H1 một thời gian mới đủ tính răn đe, giáo dục cho các bị cáo nói riêng, đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung là phù hợp nên được chấp nhận.

[7] Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 587, 590 Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (sau đây gọi là Nghị quyết 02), Hội đồng xét xử thấy rằng:

[7.1] Bị cáo Nguyễn Hữu T và bị cáo Nguyễn Khánh H1 cùng chịu trách nhiệm hình sự gây thương tích cho Nguyễn Văn L1 với lỗi cố ý nên phải liên đới chịu trách nhiệm dân sự tương ứng với mức độ lỗi của mình; trong đó, lỗi trực tiếp, lỗi chính thuộc về bị cáo T – cầm kéo gây thương tích ở tay 13%. Tuy nhiên, tại phiên toà bị cáo H1 tự nguyện cùng chịu liên đới bồi thường mỗi bị cáo 50% thiệt hại và đề nghị xem xét giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khoẻ của bị hại Lên bị xâm phạm theo quy định pháp luật; bị cáo T và bị hại Lên đề nghị xem xét giải quyết theo quy định pháp luật. Việc tự nguyện bồi

thường 50% thiệt hại của bị cáo H1 là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên ghi nhận.

[7.2] Đối với yêu cầu thanh toán tiền cứu chữa, điều trị có chứng từ với số tiền 10.936.015 đồng của bị hại yêu cầu là chi phí hợp lý, được chấp nhận.

[7.3] Xét yêu cầu bồi thường về thanh toán tiền xe đi lại 3.000.000 đồng thuê phương tiện đưa người bị hại đến cơ sở khám chữa bệnh và trở về nơi ở của bị hại, thấy rằng: việc thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đến cơ sở khám chữa bệnh và trở về nơi ở là chi phí hợp lý nhưng bị hại không xuất trình được hoá đơn chứng từ. Và quãng đường từ nơi xảy ra sự việc (Khu phố C, phường Đ) đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh P (phường T) khoảng 20km nên việc yêu cầu của bị hại thanh toán thuê phương tiện đi và về 3.000.000 đồng là không hợp lý. Mức đề nghị bồi thường số tiền 1.000.000 đồng chi phí thuê phương tiện đưa người bị hại đến cơ sở khám chữa bệnh và trở về nơi của Kiểm sát viên là phù hợp, các bị cáo đồng ý không tranh luận nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7.4] Đối với yêu cầu bồi thường chi phí ăn uống 2.400.000 đồng, chi thuốc men bồi dưỡng trong thời gian điều trị 3.000.000 đồng, tổng cộng là 5.400.000 đồng – là khoản tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị hại, thấy rằng: Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định về mức lương tối thiểu đối với lao động phổ thông, Phụ lục 1 Nghị định 128/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ về Danh mục địa bàn cấp xã áp dụng mức lương tối thiểu vùng 01 ngày lương tối thiểu vùng tại phường T, tỉnh Đắk Lắk là 148.462 đồng/ngày (3.860.000đ : 26 ngày) nhân với thời gian nằm viện có trong hồ sơ bệnh án (nhập viện từ ngày 17/02/2025 đến ngày 28/02/2025) là 12 ngày tương đương số tiền 1.781.544 đồng.

[7.5] Đối với yêu cầu bồi thường về chi phí tái khám chữa bệnh 9.000.000 đồng, tiền thuê xe 03 đi lại 03 chuyến Thành phố H 1.500.000 đồng để tái khám; tất cả đều không có hoá đơn, chứng từ, không có chỉ định tái khám điều trị của Bác sỹ nên không chấp nhận các khoản này theo như đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, bị hại được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác khi có đầy đủ chứng từ.

[7.6] Đối với yêu cầu bồi thường tiền công lao động bị hại bị mất từ 03 – 06 tháng, thấy rằng:

[7.6.1] Bị hại L1 cho rằng làm nghề sửa xe mô tô có thu nhập ổn định 15.000.000 đồng/tháng, nhưng ông L1 không không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh; và ông L1 thừa nhận sửa xe mô tô tại tiệm do ông L1 tự mở tiệm – đây là công việc không có hợp đồng lao động, không ổn định từ tiền lương, là lao động phổ thông tự do. Căn cứ Điều 7 Nghị quyết số 02 xác định ngày công lao động của ông L1 bằng 01 ngày lương tối thiểu vùng tại phường Đ, tỉnh Đắk Lắk là 148.462 đồng/ngày như căn cứ nêu tại mục [7.4].

[7.6.2] Ông L1 hiện nay bị thương tích 13% tại mu bàn tay, không có chỉ định của Bác sỹ phải hạn chế vận động, làm việc trong thời gian 03 – 06 tháng; do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên, xác định thu nhập thực tế bị mất của ông L1 là khoảng thời gian cứu chữa, điều trị đến ngày xuất viện là 12 ngày và 30 ngày nghỉ để hồi phục vận động do thương tích 13% tại mu bàn tay trái gây ra là hợp lý, tổng cộng thu nhập thực tế bị mất của ông L1 là 42 ngày, tương đương số tiền 6.235.404 đồng.

[7.7] Đối với thanh toán thu nhập bị mất của người chăm sóc, nuôi dưỡng cho bị hại do bị tổn hại sức khoẻ 13% ngày 17/02/2025 đến ngày 28/02/2025 cho bà Lương Thị Kim T4 (vợ bị hại) là 3.600.000 đồng, thấy rằng: bị hại Nguyễn Văn L1 không cung cấp hợp đồng lao động của bà Lương Thị Kim T4; tại phiên toà, ông L1 xác nhận bà T4 làm nội trợ gia đình, làm nghề lao động phổ thông tự do, không ổn định từ tiền lương và không cung cấp tài liệu để chứng minh thu nhập của bà T4; do đó, căn cứ nêu tại mục [7.4] xác định ngày công lao động của bà T4 theo vùng tại phường Đ 148.462 đồng/ngày. Căn cứ khoản 3 Điều 7 Nghị quyết số 02, thu nhập thực tế bị mất của bà T4 là 12 ngày, tương đương số tiền 1.781.544 đồng.

[7.8] Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại với số tiền 10.000.000 đồng (BL 326), thấy rằng: bị hại bị tổn thất 13% thương tích, tại mu bàn tay nên khả năng lao động của ông L1 bị giảm trong khoản thời gian nhất định; ông L1 là lao động chính trong gia đình, nên việc giảm khả năng lao động làm ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình của ông L1. Do đó, yêu cầu tổn thất tinh thần cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng tương ứng khoảng hơn 04 tháng lương cơ sở như đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, Hội động xét xử chấp nhận.

[7.9] Như vậy, tổng thiệt hại và yêu cầu của bị hại được chấp nhận là: 31.734.507 đồng (10.936.015đ + 1.000.000₫ + 1.781.544đ + 6.235.404đ + 1.781.544₫ + 10.000.000₫). Các bị cáo T, H1, đã bồi thường 2.000.000 đồng (mỗi bị cáo 1.000.000 đồng), nên mỗi bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại Lên số tiền 14.867.253 đồng, tương ứng trách nhiệm bồi thường đã phân tích tại mục [7.1].

[8] Đối với vật chứng, đồ vật đang tạm giữ:

[8.1] Đối với 01 (một) chìa khóa xe có chiều dài 08cm, phần đế nhựa màu đen dài 3,5cm, trên phần đế này có diện hình tam giác đều dài 03cm, trên

diện tam giác này có hình chữ N, cạnh viền tam giác này có gắn 01 vòng kim loại màu trắng đường kính 2,5cm; phần lưỡi khóa là kim loại màu trắng dài 4,5cm, trong đó phần kim loại có răng cưa dài 2,5cm – không còn giá trị sử dụng, bị hại L1 không yêu cầu trả lại nên tịch thu tiêu hủy.

[8.2] Đối với 01 (một) cái kéo loại kéo y tế, bằng kim loại màu trắng, dài 16cm, trong đó lưỡi kéo thẳng dài 05cm có mũi nhọn sắc bén, phần tay cầm dài 11cm gồm 02 quai kéo hình elip, mỗi quai có đường kính lớn 03cm, đường kính nhỏ 02cm, thân kéo dài 08cm – là công cụ, phương tiện bị cáo T sử dụng để phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí: mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 743.360 đồng án phí dân sự tương ứng số tiền tiếp tục phải bồi thường.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hữu T và Nguyễn Khánh H1 cùng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 08/8/2025.

  1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Phạt bị cáo Nguyễn Khánh H1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 587, 590 Bộ luật Dân sự và Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

3.1. Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải tiếp tục bồi thường số tiền 14.867.253đ (Mười bốn triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn hai trăm năm mươi ba đồng) cho Nguyễn Văn L1.

3.2. Buộc bị cáo Nguyễn Khánh H1 phải tiếp tục bồi thường số tiền 14.867.253đ (Mười bốn triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn hai trăm năm mươi ba đồng) cho Nguyễn Văn L1

3.3. Đối với các yêu cầu bồi thường của bị hại (Nguyễn Văn L1) không được chấp nhận vì không có tài liệu, chứng cứ thì bị hại có quyền khởi kiện các bị cáo bằng một vụ án dân sự khác nếu có đủ điều kiện khởi kiện.

  1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền trên thì hàng tháng phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
  2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  3. Về xử lý vật chứng, các tài liệu, đồ vật khác trong vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy:

  • - 01 chìa khóa xe có chiều dài 08cm, phần đế nhựa màu đen dài 3,5cm, trên phần đế này có diện hình tam giác đều dài 03cm, trên diện tam giác này có hình chữ N, cạnh viền tam giác này có gắn 01 vòng kim loại màu trắng đường kính 2,5cm; phần lưỡi khóa là kim loại màu trắng dài 4,5cm, trong đó phần kim loại có răng cưa dài 2,5cm.
  • - 01 cái kéo loại kéo y tế, bằng kim loại màu trắng, dài 16cm, trong đó lưỡi kéo thẳng dài 05cm có mũi nhọn sắc bén, phần tay cầm dài 11cm gồm 02 quai kéo hình elip, mỗi quai có đường kính lớn 03cm, đường kính nhỏ 02cm, thân kéo dài 08cm.

Vật chứng vụ án, tài liệu, đồ vật có tình trạng, đặc điểm như mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng, đồ vật, tài liệu số 02/QĐ-VKSKV12 ngày 27/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - Đắk Lắk.

  1. Về án phí: căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

[7.1] Bị cáo Nguyễn Hữu T chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 743.360 đồng án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng phải chịu 943.360đ (Chín trăm bốn mươi ba nghìn ba trăm sáu mươi đồng).

[7.2] Bị cáo Nguyễn Khánh H1 chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 743.360 đồng án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng phải chịu 943.360đ (Chín trăm bốn mươi ba nghìn ba trăm sáu mươi đồng).

  1. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo (Nguyễn Hữu T, Nguyễn Khánh H1), bị hại (Nguyễn Văn L1) được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án theo luật định trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSNDKV12-Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Công an tỉnh Đắk Lắk ;
  • - THADS tỉnh Đắk Lắk;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Duyên

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ            THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Bảy

Lưu Vĩnh Hòa

Nguyễn Hữu Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐẮK LẮK về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 17/02/2025, tại Khu phố 3, phường Đông Hòa, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Hữu Tr và Nguyễn Khánh H dùng kéo, ghế inox, viên gạch là hung khí gây nguy hiểm đánh Nguyễn Văn Lên gây thương tích với tỷ lệ 13%.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger