Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM THAO

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST

Ngày 23/5/2025

V/v: "Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hà Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Thanh Phong.

2. Ông Nguyễn Phúc Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hoàng Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lệ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 111/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07/5/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Vũ Minh Đ, sinh năm 1976.

ĐKHKTT tại: Khu T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1987.

ĐKHKTT tại: Khu T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Chỗ ở hiện nay: Khu Đ, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

(Anh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, chị N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện cũng như các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn anh Vũ Minh Đ trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Thanh N tự nguyện tìm hiểu đăng ký kết hôn ngày 15/11/2004 tại UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn, hai bên tự nguyện tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng sống riêng tại Khu T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, kinh tế khó khăn nên từ tháng 5/2020 chị N đi làm ăn xa, vợ chồng ly thân từ đó đến nay nên anh Đ không biết cụ thể chị N đi đâu làm gì, mỗi khi chị N đi làm về thì cũng về nhà bố mẹ đẻ tại khu Đ, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn chị Nguyễn Thị Thanh N.

Về con chung: Anh Đ xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Vũ Hồng P, sinh ngày 24/12/2005 và Vũ Hà L, sinh ngày 02/12/2009. Từ khi vợ chồng ly thân hai cháu sống với anh. Nếu ly hôn, anh không đề nghị giải quyết đối với cháu P do cháu đã thành niên, lao động tự túc được. Anh xin được nuôi cháu L và không đề nghị chị N cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không có.

Phía bị đơn là chị Nguyễn Thị Thanh N: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và thông báo đầy đủ thời gian tiến hành các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để chị N biết và thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, nhưng chị N đều không có mặt tại Tòa án để làm việc cũng như không có bản tự khai và quan điểm về yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Minh Đ.

Tại phiên tòa ngày 23/5/2025:

Nguyên đơn anh Vũ Minh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại đơn xin vắng mặt anh Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình và xin được ly hôn chị N vì vợ chồng không còn tình cảm với nhau.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh N vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng cũng như việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ của người tiến hành tố tụng là đúng quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 hướng dẫn mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Minh Đ. Xử cho anh Vũ Minh Đ được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thanh N.

Về con chung: Không xem xét giải quyết đối với con chung là cháu Vũ Hồng P, sinh ngày 24/12/2005 do cháu P đã thành niên. Đề nghị HĐXX giao con chung là cháu Vũ Hà L, sinh ngày 02/12/2009 cho anh Vũ Minh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị Nguyễn Thị Thanh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Đ.

Về tài sản chung, nợ chung và công sức: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Vũ Minh Đ phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn là chị Nguyễn Thị Thanh N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Khu T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ và cư trú tại: Khu Đ, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

- Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn anh Vũ Minh Đ vắng mặt tại phiên tòa đã có đơn xin xét xử vắng mặt hợp lệ. Bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh N được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Minh Đ và chị Nguyễn Thị Thanh N kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ ngày 15/11/2004 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, theo anh Đ trình bày thì nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, kinh tế khó khăn nên từ tháng 5/2020 chị N đi làm ăn xa, vợ chồng ly thân từ đó đến nay nên anh Đ không biết cụ thể chị N đi đâu làm gì, mỗi khi chị N đi làm về thì cũng về nhà bố mẹ đẻ tại khu Đ, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Về phía chị Nguyễn Thị Thanh N, mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị N để chị N thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng chị N không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Chị N không có văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có bản tự khai.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã tiến hành xác minh tại địa phương thì được chính quyền địa phương và vợ chồng ông Nguyễn Văn N1, bà Kiều Thị O - bố mẹ đẻ chị Nguyễn Thị Thanh N cung cấp: Chị N đăng ký hộ khẩu thường trú tại Khu T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống, khoảng năm 2020 do vợ chồng anh Đ, chị N nợ nần nên chị N phải đi làm ăn để trả nợ. Thời gian chị N đi làm xa nhà, anh Đ có tình cảm với người phụ nữ khác dẫn đến vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân nhau. Hiện chị N đi làm ăn xa, tuy nhiên chị N vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình qua điện thoại, ngày lễ tết hoặc khi gia đình có việc thì chị N vẫn về sống tại nhà ông bà ở Khu Đ, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Ông bà đã thay mặt chị N nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và thông báo ngay nội dung của các văn bản cho chị N biết. Chị N có trao đổi lại với ông bà quan điểm của chị cũng đồng ý ly hôn.

Như vậy, chị N đã biết được việc anh Đ xin ly hôn đối với chị nhưng vẫn cố tình vắng mặt nên được coi là từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Do đó, Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục vắng mặt đối với chị N là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay mặc dù anh Đ vắng mặt nhưng đã có quan điểm thể hiện tại Bản tự khai đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn đối với chị N vì hiện nay tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, có thể khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Đ và chị N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần xử cho anh Đ được ly hôn với chị N là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Anh Vũ Minh Đ xác nhận vợ chồng có hai con chung là Vũ Hồng P, sinh ngày 24/12/2005 và Vũ Hà L, sinh ngày 02/12/2009. Hiện cả hai con chung đang sống cùng anh tại Khu T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Quá trình giải quyết vụ án anh Đ không đề nghị Tòa án giải quyết đối với con chung là Vũ Hồng P do cháu P đã thành niên, lao động tự túc được; anh có nguyện vọng xin được nuôi cháu Vũ Hà L và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Mặc dù chị N vắng mặt không có lời khai nhưng theo gia đình chị N cung cấp, hiện cả hai con chung đang sống cùng anh Đ, mặc dù đi làm ăn xa nhưng chị N vẫn có trách nhiệm gửi tiền về nuôi con và đóng học phí, nếu vợ chồng ly hôn chị N cũng đồng ý để anh Đ nuôi cháu Vũ Hà L, còn cháu Vũ Hồng P đã trưởng thành nên chị N không đề nghị Tòa án giải quyết. Mặt khác, tại bản tự khai cháu L cũng có nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn được ở cùng bố. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của cháu L được tốt nhất và không làm thay đổi môi trường sinh hoạt đã ổn định của cháu L cần giao cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ Hà L, sinh ngày 02/12/2009 là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án anh Đ có quan điểm nếu được giao nuôi con anh sẽ không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Xét thấy đây là sự tự nguyện của anh Đ và phù hợp với pháp luật nên cần chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Quá trình giải quyết vụ án, anh Vũ Minh Đ xác định về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp là không có, không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề giải quyết. Nếu sau này chị Nguyễn Thị Thanh N yêu cầu giải quyết và có căn cứ thì sẽ được xem xét, giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[3] Về án phí: Anh Vũ Minh Đ phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1, 3 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa anh Vũ Minh Đ và chị Nguyễn Thị Thanh N.
  2. Về con chung: Không xem xét xét giải quyết đối với con chung là Vũ Hồng P, sinh ngày 24/12/2005 do cháu P đã thành niên, lao động tự túc được.

    Giao con chung là Vũ Hà L, sinh ngày 02/12/2009 cho anh Vũ Minh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi con chung thành niên.

    Chị Nguyễn Thị Thanh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Vũ Minh Đ do anh Đ không yêu cầu.

    Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về tài sản chung, công nợ chung và công sức đóng góp gia đình: Không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này.
  4. Về án phí: Anh Vũ Minh Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000851 ngày 11/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Anh Đ đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Anh Vũ Minh Đ và chị Nguyễn Thị Thanh N vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự."

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Lâm Thao;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Thao;
  • - Các đương sự;
  • - UBND thị trấn Lâm Thao, huyện Lâm Thao;
  • (ĐKKH ngày 15/11/2004);
  • - Lưu HS-VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Ngô Thị Hà Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO - TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO - TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chap hôn nhân và gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger