|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2025/HS-ST
Ngày: 19-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Thành; bà Đoàn Thị Duyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Khánh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 06/3/2025, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Văn D, sinh ngày 19/10/1975; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn M và con bà Tống Thị N; vợ là Cao Thị T (đã ly hôn), có 02 con.
Tiền án: Không. Tiền sự: Quyết định số 376/QĐ-XPHC ngày 18/3/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K xử phạt vi phạm hành chính Nguyễn Văn D về hành vi đánh bạc (phạt tiền: 1.000.000 đồng), chấp hành xong ngày 02/4/2024, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Nhân thân: Bản án số 77/2017/HSST ngày 28/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn Văn D 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/12/2017, chấp hành xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.000.000 đồng tiền phạt ngày 16/3/2018 (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/12/2024 đến ngày 30/12/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực K - Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo bị trích xuất, có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Đức C, sinh ngày 16/5/1991; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Ú; vợ là Đỗ Thị T2 (đã ly hôn), có 01 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/12/2024 đến ngày 26/12/2024 được trả tự do. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/12/2024. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Thành T3, sinh ngày 17/01/1989; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Thành V và con bà Trần Thị S; vợ là Nguyễn Thị H, có 03 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Từ tháng 9/2008 đến tháng 01/2010 tham gia nghĩa vụ quân sự.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/12/2024 đến ngày 26/12/2024 được trả tự do. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/12/2024. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Mai Thiện Q, sinh ngày 04/02/1997; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Mai Xuân H1 và con bà Trần Thị L; chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/12/2024 đến ngày 26/12/2024 2024 được trả tự do. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/12/2024. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Văn V1, sinh ngày 16/3/1985; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Xuân N1 và con bà Nguyễn Thị B; vợ là Phạm Thùy D1, có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/12/2024 đến ngày 26/12/2024 2024 được trả tự do. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/12/2024. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Trần Hữu P, sinh ngày 17/9/1982; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn A, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Hữu H2 (đã chết) và con bà Trần Thị L1; vợ là Vũ Thị T4, có 03 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/12/2024 đến ngày 26/12/2024 2024 được trả tự do. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/12/2024. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Trần Văn H3, sinh ngày 20/6/1985; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn P1 và con bà Vũ Thị N2; vợ là Phạm Thị T5, có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 21/2018/HS-ST ngày 18/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương xử phạt Trần Văn H3 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000 đồng tiền phạt ngày 04/7/2018 (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/12/2024 đến ngày 26/12/2024 2024 được trả tự do. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/12/2024. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Trần Đình L2, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 23/12/2024, bị cáo Nguyễn Văn D đang ở nhà thì các bị cáo Mai Thiện Q, Trần Hữu P đến nhà bị cáo Dương C1. Tại đây, các bị cáo rủ nhau đánh bạc, được thua bằng tiền dưới hình thức đánh liêng và ngồi tại phòng khách nhà bị cáo Dương chơi, các bị cáo thống nhất luật chơi như sau: Trước khi bắt đầu ván bài mỗi người chơi phải đặt cửa số tiền 10.000 đồng, khi đánh có quyền tố nhưng không quá 20.000 đồng, sau đó các bị cáo sử dụng bộ bài 52 quân, một mặt màu xanh có sẵn ở nhà bị cáo D để chơi. Trong khi các bị cáo D, P, Q đánh bạc thì bị cáo Trần Văn H3 và bị cáo Nguyễn Thành T3 đến và tham gia chơi cùng thì bị cáo D không tham gia đánh bạc nữa mà bị cáo T3 và bị cáo H3 vào tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh liêng, được thua bằng tiền với bị cáo P và bị cáo Q. Lúc này các bị cáo thống nhất lại mức đặt cược như sau: Mỗi người chơi phải đặt cửa số tiền 20.000 đồng, mức tố cao nhất không quá 200.000 đồng. Sau đó bị cáo Nguyễn Văn V1 đến tham gia đánh bạc cùng. Trong khi các bị cáo P, Q, H3, T3, V1 đang đánh bạc thì anh Trần Đình L2 đến và tham gia đánh bạc cùng với các bị cáo trên, được một lúc thì anh L2 không chơi nữa và đi về. Sau khi anh L2 về một lúc thì bị cáo Nguyễn Đức C đến và tham gia đánh bạc cùng các bị cáo P, Q, H3, T3, V1. Các bị cáo đánh bạc đến 23 giờ cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện K kiểm tra phát hiện. Các bị cáo P, Q, H3, T3, V1 cầm tiền đánh bạc để tại chiếu lên, cất giấu trong người, sau đó tự nguyện giao nộp toàn bộ số tiền mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc. Cơ quan Công an thu giữ tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 6.300.000 đồng và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, một mặt màu xanh.
Trong quá trình điều tra, các bị cáo và anh L2 khai nhận số tiền dùng đánh bạc ngày 23/12/2024 như sau: Bị cáo Nguyễn Văn D sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc, bị cáo Nguyễn Đức C mang đi và sử dụng số tiền 2.570.000 đồng để đánh bạc, bị cáo Nguyễn Thành T3 mang đi và sử dụng số tiền 1.400.000 đồng để đánh bạc, bị cáo Mai Thiện Q mang đi và sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc, bị cáo Nguyễn Văn V1 mang đi và sử dụng số tiền 930.000 đồng để đánh bạc, bị cáo Trần Hữu P mang đi và sử dụng số tiền 510.000 đồng để sử dụng đánh bạc, bị cáo Trần Văn H3 mang đi và sử dụng số tiền 50.000 đồng để đánh bạc, anh Trần Đình L2 mang đi và sử dụng số tiền 60.000 đồng để đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo và anh L2 khai sử dụng vào mục đích đánh bạc là 6.720.000 đồng. Trong quá trình đánh bạc, các bị cáo không nhớ thắng thua thế nào, số tiền đánh bạc để hết ở nền phòng khách nhà bị cáo D.
Cáo trạng số 21/CT-VKSKX ngày 21/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương truy tố các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Đức C, Nguyễn Thành T3, Mai Thiện Q, Nguyễn Văn V1, Trần Hữu P và Trần Văn H3 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương giữ nguyên truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Đức C, Nguyễn Thành T3, Mai Thiện Q, Nguyễn Văn V1, Trần Hữu P và Trần Văn H3 phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
- Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2024. Phạt bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 3 Điều 35; Điều 38; ; Điều 17; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Trần Văn H3 mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, được trừ thời hạn đã bị tạm giữ từ ngày 24/12/2024 đến ngày 26/12/2024. Phạt bị cáo từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Khoản 3 Điều 35; Điều 65; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Xử phạt bị cáo Mai Thiện Q từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bị cáo từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V1 từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bị cáo từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Xử phạt bị cáo Trần Hữu P từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bị cáo từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T3 từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bị cáo từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
- Giao các bị cáo được hưởng án treo cho Ủy ban nhân dân nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về xử lý vật chứng:
Áp dụng: Điểm a Khoản 1 Điều 46; điểm a, b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 6.300.000 đồng các bị cáo dùng để đánh bạc.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, một mặt màu xanh.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.
Các bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương đã truy tố, không tranh luận gì.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình; bị cáo D xin giảm nhẹ hình phạt; các bị cáo C, T3, V1, Q, P và H3 xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T; cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ lien quan không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo là chứng cứ kết tội lẫn nhau, ngoài ra còn được chứng minh bằng các chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K lập hồi 23 giờ 20 phút ngày 23/12/2024 tại chỗ ở của bị cáo Nguyễn Văn D (bút lục từ số 341 đến số 344); biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K lập hồi 16 giờ ngày 25/12/2024 tại Công an huyện K (bút lục từ số 347 đến số 348); kết luận giám định số 17/KL-KTHS ngày 08/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “69 tờ tiền cần giám định là tiền thật” (bút lục từ số 76 đến số 77). Cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ lien quan, phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 22 giờ 00 đến 23 giờ ngày 23/12/2024, tại chỗ ở của bị cáo Nguyễn Văn D, các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Đức C, Nguyễn Thành T3, Mai Thiện Q, Nguyễn Văn V1, Trần Hữu P và Trần Văn H3 đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh liêng với tổng số tiền là 6.300.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn D dùng chỗ ở của mình cho các bị cáo khác đánh bạc. Bị cáo Nguyễn Văn D sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc, bị cáo Nguyễn Đức C mang đi và sử dụng số tiền 2.570.000 đồng để đánh bạc, bị cáo Nguyễn Thành T3 mang đi và sử dụng số tiền 1.400.000 đồng để đánh bạc, bị cáo Mai Thiện Q mang đi và sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc, bị cáo Nguyễn Văn V1 mang đi và sử dụng số tiền 930.000 đồng để đánh bạc, bị cáo Trần Hữu P mang đi và sử dụng số tiền 510.000 đồng để sử dụng đánh bạc, bị cáo Trần Văn H3 mang đi và sử dụng số tiền 50.000 đồng để đánh bạc, anh Trần Đình L2 mang đi và sử dụng số tiền 60.000 đồng để đánh bạc.
[3] Do đó, các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Điều 321 Bộ luật Hình sự, tội “Đánh bạc” quy định: “1.Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 triệu đồng”.
[4] Xét tính chất mức độ hậu quả của vụ án thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, đánh bạc là một tệ nạn xã hội, gây nên dư luận xấu trong nhân dân. Các bị cáo đã thực hiện hành vi sát phạt nhau, chiếm đoạt tài sản của nhau một cách bất hợp pháp, điều đó thể hiện việc coi thường kỷ cương pháp luật, coi thường giá trị sức lao động của con người, mà còn có thể là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
[5] Tội phạm “Đánh bạc” mà các bị cáo thực hiện trong vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo D dùng chỗ ở của mình cùng các bị cáo khác đánh bạc, bị cáo C sử dụng số tiền nhiều nhất để đánh bạc nên bị cáo D và bị cáo C giữ vai trò thứ nhất và phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo khác. Các bị cáo Q, V1, P, T3 và H3 đã thực hiện hành vi đánh bạc rất tích cực nên các bị cáo giữ vai trò thứ 2 và phải chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo D và bị cáo C. Cần phạt bổ sung các bị cáo một khoản tiền nhất định để sung vào ngân sách nhà nước.
[6] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
[6.1] Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Nguyễn Đức C, Nguyễn Thành T3, Mai Thiện Q, Nguyễn Văn V1 và Trần Hữu P phạm tội lần đầu và thuộc trưởng hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Thành T3 có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, bị cáo Trần Văn H3 có ông nội được tặng Huân chương kháng chiến nên bị cáo T3 và bị cáo H3 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6.2] Bị cáo Nguyễn Văn D có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc, có nhân thân xấu (đã bị xử phạt tù về tội đánh bạc - đã được xóa án tích), bị cáo Trần Văn H3 có nhân thân xấu (đã bị xử phạt tù về tội đánh bạc - đã được xóa án tích) nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần thiết phải xử phạt tù giam bị cáo D và bị cáo H3 một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[6.3] Các bị cáo Nguyễn Đức C, Nguyễn Văn V1, Mai Thiện Q, Nguyễn Thành T3 và Trần Hữu P có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần thiết cách ly các bị cáo khỏi xã hội nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương tại phiên tòa là phù hợp.
[7] Về vật chứng vụ án:
[7.1] Đối với số tiền 6.300.000 đồng các bị cáo và anh L2 sử dụng để đánh bạc nên áp dụng điểm a Khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; căn cứ vào điểm a, b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[7.2] Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, một mặt màu xanh đây là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ vào điểm a, b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu hủy.
[8] Đối với anh Trần Đình L2 có hành vi đánh bạc cùng các bị cáo P, H3, T3, V1, Q, tuy nhiên tại thời điểm anh L2 tham gia đánh bạc, tổng số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc xác định dưới 5.000.000 đồng, sau đó anh L2 không tham gia đánh bạc nữa (Số tiền thu khi bắt quả tang là 6.300.000 đồng, trong đó của bị cáo C là 2.570.000 đồng). Khi các bị cáo bị bắt quả tang anh L2 không có mặt, anh L2 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, do đó hành vi của anh L2 không cấu thành tội “Đánh bạc”. Công an huyện K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Đình L2 là đúng quy định của pháp luật.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Đức C, Nguyễn Thành T3, Mai Thiện Q, Nguyễn Văn V1, Trần Hữu P và Trần Văn H3 phạm tội: “Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
- Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2024. Phạt bị cáo 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 3 Điều 35; Điều 38; ; Điều 17; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Trần Văn H3 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, được trừ thời hạn đã bị tạm giữ từ ngày 24/12/2024 đến ngày 26/12/2024. Phạt bị cáo 3.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Khoản 3 Điều 35; Điều 65; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/3/2025. Phạt bị cáo 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước. Giao bị cáo C cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Mai Thiện Q 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/3/2025. Phạt bị cáo 3.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước. Giao bị cáo Q cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V1 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/3/2025. Phạt bị cáo 3.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước. Giao bị cáo V1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Trần Hữu P 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/3/2025. Phạt bị cáo 3.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước. Giao bị cáo P cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T3 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/3/2025. Phạt bị cáo 3.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước. Giao bị cáo T3 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Áp dụng: Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
- Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 6.300.000 đồng các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dùng để đánh bạc.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ, 52 quân, một mặt màu xanh.
(Vật chứng nêu trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương quản lý).
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14: Các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Đức C, Nguyễn Thành T3, Mai Thiện Q, Nguyễn Văn V1, Trần Hữu P và Trần Văn H3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/3/2025. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thái |
Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH về đánh bạc
- Số bản án: 22/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Dương
