Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ-PT

Ngày 16-4-2025

V/v tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Cao Nhật Thanh
Các Thẩm phán:Bà Lưu Thị Mỹ Hương
Ông Bùi Ngọc Thạch.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Liễu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Nữ - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 74/2024/TLPT-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024 về việc “tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 26/2024/HNGĐ-ST ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 09/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1977; cư trú tại: số A, ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1983; cư trú tại: số C, đường số D, tổ D, khu phố G, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 17 tháng 10 năm 2022); có mặt.

  2. Bị đơn: Bà Bùi Thị Xuân L, sinh năm 1974; cư trú tại: số A, ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; có mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1995; cư trú tại: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; có mặt.
    2. Anh Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1995; cư trú tại: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
    3. Chị Nguyễn Thị Thanh K, sinh năm 2000; cư trú tại: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; có mặt.
    4. Bà Đỗ Thị Thi T1, sinh năm 1967; cư trú tại: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương.

      Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Thi T1: Ông Đậu Văn C1, sinh năm 1988; cư trú tại: ấp H, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 03 tháng 4 năm 2024); vắng mặt.

    5. Ông Lê Thiên L1, sinh năm 1981; cư trú tại: số D, H, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
    6. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: đường N, 43 KĐT B, huyện B, tỉnh Bình Dương.

      Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng: Ông Trần Thanh S, sinh năm 1974; địa chỉ: khu phố Đ, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương; chức vụ: Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 12 tháng 4 năm 2024); vắng mặt.

    7. Văn phòng C2 và Công chứng viên Trần Văn T2; địa chỉ: thửa đất số 82 (Ô) Lô G, khu dân cư L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
  4. Người kháng cáo: nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình tố tụng nguyên đơn và người đại diện hợp pháp ông Nguyễn Hữu H thống nhất trình bày:

Ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị Xuân L bắt đầu chung sống với nhau năm 1995, có tổ chức đám cưới và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện B (nay là huyện B), tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 20 tháng 8 năm 1997. Sau khi cưới, ông Q và bà L ở trên đất của cha mẹ ông Q cho ở xã L. Khi đó, ông Q làm nghề sửa xe honda, bà L ở nhà nội trợ.

Phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 193, tờ bản đồ số 17, diện tích 609m2, tọa lạc ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CH02683 ngày 31 tháng 10 năm 2012 của Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho bà L là tài sản chung của vợ chồng ông Q và bà L. Nguồn gốc do vợ chồng nhận chuyển nhượng khoảng năm 2006-2007, giá chuyển nhượng 100.000.000 đồng là tiền chung của vợ chồng, khi đó là đất trống. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông Q được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ H 01766 ngày 14 tháng 3 năm 2007. Đến năm 2012, ông Q chuyển cho bà L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với Văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng được công chứng tại Văn phòng C3 ngày 10 tháng 10 năm 2012 số công chứng 005507 quyển số 06 TP/CC-SCC/TSVC, ông Q ký văn bản này mục đích để làm thủ tục đổi sang cho bà L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 193 vì khi đó bà L đứng tên giấy phép kinh doanh nhà trọ gắn liền với thửa đất này, mà quyền sử dụng đất thì ông Q đứng tên nên bà L không được đăng ký đồng hồ điện kinh doanh nhà trọ (nghĩa là người đứng tên quyền sử dụng đất và người đứng tên nhà trọ phải cùng một người thì mới đứng tên đồng hồ điện). Vì vậy, ông Q mới ký văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng để sang tên quyền sử dụng đất cho bà L. Khi sang tên quyền sử dụng đất, thủ tục như thế nào thì ông Q làm vậy. Ông Q biết đọc, biết viết và ký văn bản này mục đích để làm thủ tục cho nhanh.

Đối với 14 căn nhà trọ (hiện nay còn 12 căn) gắn liền với đất do ông Q tự bỏ tiền ra xây dựng vào năm 2008 là 360.000.000 đồng. Vì lúc này, vợ chồng ông Q dù vẫn sống chung nhưng đã có mâu thuẫn, tiền ai người đó sử dụng, không góp chung. Đối với các tài sản khác gắn liền với đất, ông Q không tranh chấp.

Ngày 28 tháng 5 năm 2018, bà L chuyển nhượng phần quyền sử dụng đất của bà L thuộc thửa đất số 193 cho con gái của ông Q và bà L là chị Nguyễn Thị Thanh T với giá 800.000.000 đồng, lý do bà L thiếu nợ chị T. Hai bên có lập Giấy mua bán đất ngày 28 tháng 5 năm 2018, bên bán là bà L, bên mua là chị T, người làm chứng là ông Q và Nguyễn Thị Thanh K (con ruột của ông Q và bà L). Do không thể tách sổ thành hai phần để chuyển nhượng nên ông Q đồng ý cho hai bên ghi trong giấy tay chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 193. Nếu việc chuyển nhượng thành, do chị T là con nên ông Q đồng ý cho chị T 12 căn nhà trọ và chị T được quyền sử dụng phần đất có nhà trọ, còn phần đất không có nhà trọ thuộc quyền sử dụng đất của ông Q. Ông Q không ký tên cùng bà L là bên bán vì thực tế bà L chỉ bán phần của bà L là ½ diện tích thửa đất số 193.

Sau đó, do bà L có vay tiền của nhiều người khác và bị họ khởi kiện. Theo Bản án dân sự phúc thẩm số 202/2019/DS-PT ngày 10 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2019/DS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, bà L có trách nhiệm trả cho bà Đỗ Thị Thi T1 số tiền nợ gốc là 554.000.000 đồng. Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2020/DS-ST ngày 12 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, bà L có trách nhiệm trả cho ông Lê Thiên L1 số tiền là 400.000.000 đồng. Bà T1 và ông L1 đều có đơn yêu cầu thi hành án. Cơ quan Thi hành án dân sự huyện B ra quyết định thi hành án và tiến hành kê biên và ngăn chặn giao dịch đối với thửa đất số 193. Các khoản nợ bà L có nghĩa vụ trả theo các bản án trên là trách nhiệm của cá nhân bà L, còn thửa đất số 193 là tài sản chung của vợ chồng. Việc kê biên toàn bộ thửa đất số 193 ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của ông Q nên ông Q khởi kiện bà L yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Về yêu cầu độc lập của chị T, yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho chị T đối với ½ diện tích thửa đất số 193 là 609m²/2 = 304,5 m², vị trí đất có nhà trọ mà chị T đã nhận chuyển nhượng của bà L, chị T được cùng đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với ông Q; ông Q đồng ý với yêu cầu độc lập của chị T. Phần diện tích chị T yêu cầu công nhận là phần bà L ký chuyển nhượng cho chị T. Đối với Giấy mua bán đất ngày 28 tháng 5 năm 2018 và Hợp đồng ủy quyền ngày 20 tháng 3 năm 2019, công chứng tại Văn phòng C4, số công chứng 818, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD, ông Q hoàn toàn thống nhất.

Nay, ông Q yêu cầu được chia ½ diện tích còn lại của thửa đất số 193, là phần đất không có nhà trọ bằng hiện vật. Ông Q đề nghị Tòa án công nhận 12 căn nhà trọ gắn liền với thửa đất số 193 thuộc quyền sở hữu của ông Q và ông Q đồng ý tặng cho chị T 12 căn nhà trọ này. Do bà L đã chuyển nhượng phần quyền sử dụng đất của bà L cho chị T và đã nhận tiền chuyển nhượng nên ông Q không hoàn lại cho bà L ½ giá trị thửa đất số 193.

Bị đơn bà Bùi Thị Xuân L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai, xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa nhưng bà L đều vắng mặt không lý do. Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà L.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày:

Chị T và chị K là con của ông Q và bà L. Chồng chị T là anh Nguyễn Mạnh C, có đăng ký kết hôn ngày 03 tháng 5 năm 2018.

Phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 193 là tài sản chung của ông Q và bà L. Riêng 12 căn nhà trọ gắn liền với đất do ông Q tự bỏ tiền ra xây vì khi đó ông Q và bà L xảy ra mâu thuẫn.

Năm 2018, bà L làm ăn thua lỗ, bà L có nợ chị T khoảng hơn 200.000.000 đồng nhưng không có giấy tờ vì là mẹ con. Ngày 28 tháng 5 năm 2018, bà L chuyển nhượng ½ quyền sử dụng đất của bà L thuộc thửa đất số 193 cho chị T với giá 800.000.000 đồng, trừ vào tiền nợ hơn 200.000.000 đồng, chị T giao tiếp cho bà L hơn 500.000.000 đồng. Hai bên có lập Giấy mua bán đất ngày 28 tháng 5 năm 2018 do chị T viết. Trong giấy tay chị T ghi diện tích chuyển nhượng là toàn bộ thửa đất số 193 (không phải ½ thửa đất), lý do chị T ghi theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ghi giấy tay để làm tin. Khi đó, ông Q không đồng ý chuyển nhượng ½ phần quyền sử dụng đất của ông Q nên ông Q chỉ ký trong giấy tay là người làm chứng. Vị trí đất chị T thỏa thuận nhận chuyển nhượng là phần đất trống thể hiện thổ cư, không có nhà trọ, mục đích để vợ chồng chị xây nhà ở. Ông Q có hứa cho vợ chồng chị thu tiền thuê của 14 căn nhà trọ để nuôi con và làm ăn; chứ vợ chồng chị không có nhận chuyển nhượng phần đất có 14 căn nhà trọ.

Số tiền hơn 500.000.000 đồng mà chị T giao cho bà L trong ngày 28 tháng 5 năm 2018 là tài sản chung của vợ chồng chị T, chị T giao trực tiếp cho bà L để bà L giải quyết việc làm ăn, nợ nần; ông Q không sử dụng số tiền này. Sau đó, chị T tiến hành thủ tục sang tên nhưng do không đảm bảo điều kiện tách thửa, không ký giáp ranh được nên chị T không thực hiện được.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chị T, chị T đề nghị ông Q và bà L ký ủy quyền toàn bộ thửa đất số 193 cho chị T (vì không được ủy quyền ½ thửa đất), phần quyền sử dụng đất của ông Q thực tế vẫn do ông Q quản lý, sử dụng. Mặt khác, ông Q cũng đồng ý cho vợ chồng chị được quản lý, sử dụng 14 căn nhà trọ nên ông Q đã cùng bà L ký ủy quyền cho chị T theo Hợp đồng ủy quyền ngày 20 tháng 3 năm 2019, công chứng tại Văn phòng C4, thời hạn ủy quyền là 10 năm kể từ thời điểm hợp đồng được Công chứng viên chứng nhận.

Sau khi ủy quyền, chị T cùng ông Q quản lý, sử dụng thửa đất số 193, tiền nhà trọ do chị T thu và sử dụng từ năm 2018 đến nay và bà L không có ý kiến gì. Hiện nay, bà L phải thi hành án trả cho bà T1 số tiền nợ gốc 554.000.000 đồng và trả cho ông L1 400.000.000 đồng. Khi Cơ quan Thi hành án dân sự huyện B tiến hành kê biên và ngăn chặn giao dịch đối với thửa đất số 193 thì chị T mới biết quyền và lợi ích hợp của chị T và ông Q bị ảnh hưởng. Vì vậy, ông Q khởi kiện bà L để phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Nay chị T yêu cầu độc lập như sau: yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho chị T đối với ½ diện tích thửa đất số 193 là 609m²/2 = 304,5m², vị trí đất có nhà trọ, chị T được cùng đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với ông Q.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Mạnh C trình bày: anh C là chồng chị T, anh C thống nhất toàn bộ ý kiến và yêu cầu của chị T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thanh K trình bày: chị K và chị T là con của ông Q và bà L, chị K là em chị T. Năm 2018, bà L có chuyển nhượng cho chị T một mảnh đất bao gồm 14 căn nhà trọ với số tiền 800.000.000 đồng. Bà L đã nhận đủ 800.000.000 đồng tiền mặt và giao toàn bộ quyền sử dụng đất của thửa đất đó cho chị T. Chị K không có ý kiến hay tranh chấp gì trong vụ án.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Thi T1 là ông Đậu Văn C1 trình bày: Theo bản án dân sự phúc thẩm số 202/2019/DS-PT ngày 10 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 01/2019/DS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, bà L là người phải thi hành án (trả nợ) cho bà T1 số tiền là 554.000.000 đồng. Đến nay đã quá lâu mà vợ chồng ông Q và bà L không thi hành án trả nợ cho bà T1. Tại Văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng ngày 10 tháng 10 năm 2012, ông Q đã tự nguyện chia cho bà L toàn bộ quyền sử dụng đất thửa đất số 193 nên đây là tài sản riêng của bà L. Ngày 20 tháng 3 năm 2019, bà L và ông Q cùng ký hợp đồng ủy quyền cho chị T được toàn quyền quản lý thửa đất số 193 chỉ sau một ngày Tòa án xét xử sơ thẩm là không đúng quy định của pháp luật, có dấu hiệu tẩu tán tài sản. Đối với Giấy mua bán đất ngày 28 tháng 5 năm 2018 là giấy tay tự lập, không có cơ sở xác định được thời điểm mua bán. Nay ông Q khởi kiện chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân với bà L làm ảnh đến hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của bà T1, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của bà T1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thiên L1 trình bày: bà L là người phải thi hành án (trả nợ) cho ông L1 với số tiền là 400.000.000 đồng. Ngày 30 tháng 12 năm 2020, ông L1 làm đơn yêu cầu thi hành án đối với bà L. Hiện nay, việc thi hành án bị hoãn lại do ông Q khởi kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Ông L1 đề nghị Tòa án giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của ông L1.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng là ông Trân Thanh S trình bày:

Căn cứ Bản án số 01/2019/DS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng; Bản án số 202/2019/DS-PT ngày 10 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương; Bản án số 15/2020/DS-ST ngày 12 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng; Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 28/QĐ-CCTHADS ngày 08 tháng 10 năm 2019 và số 243/QĐ-CCTHADS ngày 06 tháng 01 năm 2021 của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng: bà L phải có nghĩa trả cho bà T1 số tiền 554.000.000 đồng và lãi suất chậm thi hành án; trả cho ông L1 số tiền 400.000.000 đồng; án phí dân sự sơ thẩm bà L phải nộp 36.460.000 đồng; tổng số tiền bà L phải thi hành án là 990.460.000 đồng và lãi suất chậm thi hành án.

Quá trình tổ chức thi hành án, qua xác minh và đo đạc thực tế cho thấy: bà L và ông Q có quyền sử dụng đất diện tích 628,3m2 (trong đó có: ONT 100m2; HLATĐB 86,5m2 ; CLN 441,8m2) và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 193, tờ bản đồ số 17, tọa lạc xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác khắc liền với đất số BL 916214, số vào sổ cấp GCN: CH02683 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 31 tháng 10 năm 2012 cho bà L.

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng đã ra Thông báo về việc phân chia tài sản chung số 25/TB-THADS ngày 10 tháng 12 năm 2021 cho bà L và ông Q đúng theo khoản 1 Điều 74 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng đã tống đạt hợp lệ Thông báo này cho bà L và ông Q.

Nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện B đề nghị Tòa án giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C2 và Công chứng viên Trần Văn T2 trình bày:

Hợp đồng ủy quyền số công chứng 818 quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD được Công chứng viên Trần Văn T2 chứng nhận ngày 20 tháng 3 năm 2019. Hợp đồng ủy quyền được giao kết giữa bên ủy quyền là bà L cùng chồng là ông Q và bên nhận ủy quyền là chị T. Theo đó, bà L và ông Q đồng ý ủy quyền cho chị T thực hiện các công việc có liên quan đến thửa đất số 193, tờ bản đồ số 17 có diện tích 609m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL916214, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH02683 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 31 tháng 10 năm 2012. Thời hạn ủy quyền 10 (mười) năm kể từ thời điểm hợp đồng được Công chứng viên chứng nhận. Thù lao ủy quyền 500.000 đồng.

Hồ sơ công chứng có đầy đủ các giấy tờ cần thiết như: các giấy tờ về nhân thân (CMND, chứng nhận kết hôn, hộ khẩu), giấy tờ về tài sản (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xác nhận tình trạng bất động sản), giấy tờ kiểm tra thông tin ngăn chặn giao dịch trên phần mềm quản lý công chứng.

Công chứng viên Trần Văn T2 là người tiếp nhận yêu cầu công chứng, xem xét các loại giấy tờ do hai bên cung cấp và nhận thấy bên ủy quyền là bà L và ông Q và bên nhận ủy quyền là chị T đã tự nguyện yêu cầu công chứng hợp đồng ủy quyền. Văn phòng đã tiến hành soạn thảo hợp đồng, bà L và ông Q và chị T đã tự đọc lại toàn bộ nội dung hợp đồng, đã đồng ý toàn bộ nội dung hợp đồng nên hai bên đã ghi rõ trong hợp đồng là: “Chúng tôi đã đọc và đồng ý” “Tôi đã đọc và đồng ý” sau đó ký tên, điểm chỉ vào hợp đồng trước mặt công chứng viên. Công chứng viên Trần Văn T2 đã chứng nhận Hợp đồng ủy quyền số công chứng 818 quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20 tháng 3 năm 2019. Văn phòng C2 đã thực hiện việc công chứng đúng với trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, Văn phòng C2 không có ý kiến; đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bản án sơ thẩm số: 26/2024/HNGĐ-ST ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng đã quyết định:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q đối với bà Bùi Thị Xuân L về việc tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đối với yêu cầu được chia ½ diện tích thửa đất số 193, tờ bản đồ số 17, diện tích 609 m² (đo đạc thực tế 628,3 m²), tọa lạc ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, vị trí không có nhà trọ bằng hiện vật.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q đối với bà Bùi Thị Xuân L về việc tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đối với 12 căn nhà trọ gắn liền với thửa đất số 193, tờ bản đồ số 17.

    Thửa đất số 193, tờ bản đồ số 17, diện tích 609 m² (đo đạc thực tế 628,3 m²) có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CH02683 ngày 31 tháng 10 năm 2012 của Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương cấp cho bà Bùi Thị Xuân L là tài sản riêng của bà Bùi Thị Xuân L nên bà Bùi Thị Xuân L được quyền sở hữu 12 căn nhà trọ diện tích 218 m² có mái hiên 42 m² gắn liền với đất (kèm theo bản vẽ chi tiết).

    Bà Bùi Thị Xuân L có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn Q số tiền 162.500.000 đồng (một trăm sáu mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Đối với các tài sản khác gắn liền với đất, các đương sự không tranh chấp nên không xem xét.

  3. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu cầu độc lập của chị Nguyễn Thị Thanh T đối với bà Bùi Thị Xuân L về việc tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
  4. Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền ngày 20 tháng 3 năm 2019, công chứng tại Văn phòng C4 (nay là Văn phòng C2), số công chứng 818, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD giữa bà Bùi Thị Xuân L, ông Nguyễn Văn Q và chị Nguyễn Thị Thanh T vô hiệu.
  5. Tuyên bố Giấy mua bán đất ngày 28 tháng 5 năm 2018 giữa bà Bùi Thị Xuân L, ông Nguyễn Văn Q và chị Nguyễn Thị Thanh T vô hiệu.
  6. Về hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Bùi Thị Xuân L và chị Nguyễn Thị Thanh T sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí; chi phí tố tụng; trách nhiệm chậm thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Cùng ngày 02/8/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thanh T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thanh T giữ nguyên yêu cầu độc lập, yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà L cho rằng phần đất tranh chấp và nhà trọ trên đất là tài sản chung của bà L và ông Q. Phần đất của bà L đã bán cho bà T, còn phần nhà trọ yêu cầu chia đôi.

Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Những người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới. Án sơ thẩm xét xử là đúng nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo, y án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về tố tụng:

    1. [1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Thanh T làm trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

    2. [1.2] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: nguyên đơn kháng cáo về phần tài sản chung là quyền sử dụng đất, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T kháng cáo về phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần tài sản chung là quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất các phần khác của án sơ thẩm không kháng cáo nên có hiệu lực pháp luật.

  2. [2] Về nội dung:

    1. [2.1] Về yêu cầu khởi kiện của ông Q:

      1. [2.1.1] Ông Q yêu cầu được chia bằng hiện vật ½ diện tích thửa đất số 193, tờ bản đồ số 17, diện tích 609 m² (đo đạc thực tế 628,3 m²) tọa lạc tại ấp L, xã L, vị trí không có nhà trọ.

        Ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị Xuân L là vợ chồng, có đăng ký kết hôn ngày 20 tháng 8 năm 1997 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B. Ngày 11 tháng 12 năm 2006, ông Q và bà L nhận chuyển nhượng thửa đất số 193, tờ bản đồ số 17. Ngày 14 tháng 3 năm 2007, ông Q được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ H 01766. Ngày 10 tháng 10 năm 2012, ông Q và bà L có văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng, được công chứng tại Văn phòng C3, số công chứng 005507, quyển số 06 TP/CC-SCC/TSVC. Ngày 31 tháng 10 năm 2012, bà L được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH02683. Ông Q cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng nhưng ông Q không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên những lời khai này của ông Q là không có cơ cơ sở. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông Q về việc được chia ½ diện tích thửa đất số 193, vị trí không có nhà trọ bằng hiện vật là có căn cứ.

      2. [2.1.2] Đối với tài sản gắn liền với thửa đất số 193: ông Q khai 14 căn nhà trọ (hiện nay còn 12 căn) gắn liền với đất do ông Q tự bỏ tiền ra xây dựng vào năm 2008 là 360.000.000 đồng. Vì lúc này, vợ chồng ông Q dù vẫn sống chung nhưng đã có mâu thuẫn, tiền ai người đó sử dụng, không góp chung nên các căn nhà trọ này là tài sản riêng của ông Q, ông Q đề nghị Tòa án công nhận 12 căn nhà trọ này thuộc quyền sở hữu của ông Q.

        Xét thấy, 12 căn nhà trọ được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và các bên không có thỏa thuận gì đối với tài sản trên nên đây là tài sản chung của ông Q và bà L theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử cho ông Q được quyền sở hữu đối với 06 căn nhà trọ là có căn cứ.

    2. [2.2] Về yêu cầu độc lập của chị T: yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng ½ diện tích thửa đất số 193 là 304,5 m² cho chị T, vị trí đất có nhà trọ mà chị T đã nhận chuyển nhượng của bà L và chị T được cùng đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với ông Q.

      Chị T khai: ngày 28 tháng 5 năm 2018, bà L chuyển nhượng ½ quyền sử dụng đất của bà L thuộc thửa đất số 193 cho chị T với giá 800.000.000 đồng, trừ vào tiền bà L nợ chị T hơn 200.000.000 đồng, chị T giao tiếp cho bà L hơn 500.000.000 đồng; hai bên có lập Giấy mua bán đất ngày 28 tháng 5 năm 2018 do chị T viết, ông Q và chị K ký làm chứng; vị trí đất mà chị T nhận chuyển nhượng là phần đất trống thể hiện đất thổ cư, không có nhà trọ, mục đích để vợ chồng chị xây nhà ở. Do không đảm bảo điều kiện tách thửa, không ký giáp ranh được, việc sang tên gặp khó khăn nên chị T đề nghị ông Q và bà L ký ủy quyền toàn bộ thửa đất cho chị T (vì không được ủy quyền ½ thửa đất) theo Hợp đồng ủy quyền ngày 20 tháng 3 năm 2019, công chứng tại Văn phòng C4, số công chứng 818, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD. Sau khi ủy quyền, chị T cùng ông Q quản lý, sử dụng thửa đất số 193, tiền nhà trọ thì do chị T thu và sử dụng từ năm 2018 đến nay. Về nội dung này, ông Q cũng khai giống chị T.

      1. [2.2.1] Xét thấy, Hợp đồng ủy quyền ngày 20 tháng 3 năm 2019 (bút lục số 74 đến 77) được công chứng trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận của các bên. Tuy nhiên, hợp đồng ủy quyền được lập sau 01 ngày Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng xét xử tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn bà T1 và bị đơn bà L là ngày 19 tháng 3 năm 2019, buộc bà L trả cho bà T1 số tiền 554.000.000 đồng nợ gốc, tại phiên tòa này bà L có mặt. Bà L đã biết rõ nội dung bản án và trách nhiệm trả nợ của mình đối với bà T1. Bà L có hành vi tẩu tán tài sản thông qua việc xác lập giao dịch ủy quyền nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ đối với người thứ ba là bà T1. Khi công chứng hợp đồng này, Công chứng viên không thể biết được giữa ông Q và bà L có văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, giữa bà L và chị T có ký giấy tay chuyển nhượng quyền sử dụng đất và việc xét xử của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng. Công chứng viên thực hiện chứng nhận hợp đồng ủy quyền trên cơ sở yêu cầu và các giấy tờ cần thiết mà các bên cung cấp theo quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng ủy quyền này là vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 124 của Bộ luật Dân sự.

      2. [2.2.2] Đối với Giấy mua bán đất ngày 28 tháng 5 năm 2018 giữa bà L, ông Q và chị T (bút lục số 78): Về hình thức, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên chỉ lập giấy tay, không được công chứng, chứng thực theo quy định tại khoản 2 Điều 129 của Bộ luật Dân sự và điểm a khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013. Về nội dung của hợp đồng không đảm bảo đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 117 của Bộ luật Dân sự. Về chủ thể: phần đầu của giấy tay ghi bà L cùng chồng là ông Q “có bán cho con tôi là Nguyễn Thị Thanh T....một mảnh đất bao gồm 14 căn nhà trọ tại thửa đất số 193, tờ bản đồ số 17 tại địa chỉ xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Diện tích 609 m²...” nhưng phần cuối giấy tay ông Q ký với tư cách người làm chứng. Chị T lý giải do ông Q không đồng ý chuyển nhượng ½ phần quyền sử dụng đất của ông Q nên ông Q ký với tư cách người làm chứng. Ông Q khai không ký tên cùng bà L bên bán vì thực tế bà L chỉ bán phần của bà L là ½ diện tích thửa đất số 193 cho chị T. Lời khai của chị T và ông Q là không có cơ sở, bởi các bên đều biết rõ, ông Q đã chia toàn bộ thửa đất cho bà L từ năm 2012. Tương tự như hợp đồng ủy quyền trên, việc ông Q cùng bà L ký chuyển nhượng đất cho chị T là không đúng.

        Về đối tượng của hợp đồng là diện tích đất chuyển nhượng: quá trình tố tụng và tại phiên tòa, chị T và ông Q đều thừa nhận, chị T nhận chuyển nhượng ½ diện tích thửa đất số 193 của bà L bên phần đất trống có thổ cư (bút lục số 90) (bên không có nhà trọ) nhưng chị T lại có yêu cầu độc lập công nhận quyền sử dụng đất vị trí có nhà trọ. Trong giấy chuyển nhượng lại thể hiện chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 193, diện tích 609 m². Chị T khai, chị ghi diện tích chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 193 là ghi theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ghi giấy tay để làm tin. Ông Q khai do không thể tách sổ thành hai phần để chuyển nhượng nên ông Q đồng ý ghi diện tích chuyển nhượng là 609 m². Lời khai của ông Q và chị T là những người trực tiếp ký tên trong giấy tay ngày 28 tháng 5 năm 2018 nhưng lại bất nhất, mâu thuẫn, từ đó xác định diện tích chuyển nhượng theo giấy tay là chưa rõ ràng, cụ thể. Đối tượng của hợp đồng là một trong những nội dung cơ bản và quan trọng nhất của hợp đồng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 398 của Bộ luật Dân sự. Vì vậy, thỏa thuận về diện tích chuyển nhượng là chưa đảm bảo theo quy định của pháp luật.

        Về số tiền chuyển nhượng 800.000.000 đồng, chị T thừa nhận giấy tay do chị T viết, trong đó có nội dung “Tôi đã nhận đủ số tiền và tôi chấp nhận giao toàn bộ quyền sử dụng đất của thửa đất này cho con tôi là Nguyễn Thị Thanh T”. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, chị T cũng không chứng minh được các lần giao tiền và số tiền giao từng lần cụ thể bao nhiêu. Tại cấp sơ thẩm, bà L dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, biết rõ ông Q và chị T tranh chấp thửa đất số 193 nhưng bà L vẫn bỏ mặc, không đến Tòa để tham gia tố tụng, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Q và yêu cầu độc lập của chị T. Tại cấp phúc thẩm, bà L cũng không xác định cụ thể các lần nhận tiền và số tiền đã nhận. Từ đó, Tòa án không thể làm rõ có hay không có việc giao nhận tiền chuyển nhượng giữa bà L và chị T, nếu có thì đã nhận số tiền bao nhiêu để xem xét.

        Như vậy, Giấy mua bán đất ngày 28 tháng 5 năm 2018 không đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự cả về nội dung và hình thức theo Điều 117 của Bộ luật Dân sự nên vô hiệu.

  3. [3] Từ những phân tích ở mục [2], Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu chia tài sản chung là nhà của ông Q, không chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất và không chấp nhận yêu cầu độc lập là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà T là có căn cứ. Do đó, kháng cáo của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T là không có cơ sở xem xét nên Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T, y án sơ thẩm.

  4. [4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

  5. [5] Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T.
  2. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 26/2024/HNGĐ-ST ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương về việc “Tranh chấp tài sản trong thời kỳ hôn nhân và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
    1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q đối với bà Bùi Thị Xuân L về việc tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đối với yêu cầu được chia ½ diện tích thửa đất số 193, tờ bản đồ số 17, diện tích 609 m² (đo đạc thực tế 628,3 m²), tọa lạc ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, vị trí không có nhà trọ bằng hiện vật.
    2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q đối với bà Bùi Thị Xuân L về việc tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đối với 12 căn nhà trọ gắn liền với thửa đất số 193, tờ bản đồ số 17.

      Thửa đất số 193, tờ bản đồ số 17, diện tích 609 m² (đo đạc thực tế 628,3 m²) có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CH02683 ngày 31 tháng 10 năm 2012 của Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương cấp cho bà Bùi Thị Xuân L là tài sản riêng của bà Bùi Thị Xuân L nên bà Bùi Thị Xuân L được quyền sở hữu 12 căn nhà trọ diện tích 218 m² có mái hiên 42 m² gắn liền với đất (kèm theo bản vẽ chi tiết).

      Bà Bùi Thị Xuân L có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn Q số tiền 162.500.000 đồng (một trăm sáu mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).

      Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

      Đối với các tài sản khác gắn liền với đất, các đương sự không tranh chấp nên không xem xét.

    3. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu cầu độc lập của chị Nguyễn Thị Thanh T đối với bà Bùi Thị Xuân L về việc tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

      Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền ngày 20 tháng 3 năm 2019, công chứng tại Văn phòng C4 (nay là Văn phòng C2), số công chứng 818, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD giữa bà Bùi Thị Xuân L, ông Nguyễn Văn Q và chị Nguyễn Thị Thanh T vô hiệu.

      Tuyên bố Giấy mua bán đất ngày 28 tháng 5 năm 2018 giữa bà Bùi Thị Xuân L, ông Nguyễn Văn Q và chị Nguyễn Thị Thanh T vô hiệu.

      Về hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Bùi Thị Xuân L và chị Nguyễn Thị Thanh T sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

    4. 2.4. Về án phí và chi phí tố tụng khác:

      Về án phí:

      • Ông Nguyễn Văn Q phải chịu 16.377.587 đồng (mười sáu triệu ba trăm bảy mươi bảy nghìn năm trăm tám mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm, trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2021/0009450 ngày 01 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, hoàn lại cho ông Nguyễn Văn Q số tiền 1.622.412 đồng (một triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn bốn trăm mười hai đồng).
      • Bà Bùi Thị Xuân L phải chịu 8.125.000 đồng (tám triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
      • Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 18.757.625 đồng (mười tám triệu bảy trăm năm mươi bảy nghìn sáu trăm hai mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm, trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2021/0010353 ngày 01 tháng 8 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, chị Nguyễn Thị Thanh T3 phải tiếp tục nộp 6.757.625 đồng (sáu triệu bảy trăm năm mươi bảy nghìn sáu trăm hai mươi lăm đồng).

      Về chi phí tố tụng khác: ông Nguyễn Văn Q phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí định giá và chi phí in hồ sơ sao lục giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 4.102.039 đồng (bốn triệu một trăm lẻ hai nghìn không trăm ba mươi chín đồng), trừ vào 4.102.039 đồng (bốn triệu một trăm lẻ hai nghìn không trăm ba mươi chín đồng) đã được ông Nguyễn Văn Q tạm ứng tại Tòa, ông Nguyễn Văn Q đã thực hiện xong.

      3/ Về án phí phúc thẩm:

      • Ông Nguyễn Văn Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003642 ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
      • Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003643 ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - TAND huyện Bàu Bàng;
  • - Chi cục THADS huyện Bàu Bàng;
  • - TỔ HCTP TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: Hồ sơ, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Nhật Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HNGĐ-PT ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 22/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger