Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN DƯƠNG KINH

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày 15-4-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Tạ Thị Hương

Ông Đặng Kim Dũng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trang Thanh - Thư ký Toà án nhân dân

quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Dương Kinh, thành phố Hải

Phòng tham gia phiên tòa: Ông Lê Kim Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên số 177/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh S, sinh ngày 09 tháng 11 năm 1958 tại Hải Phòng. Nơi thường trú: Tổ dân phố P, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố P, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Đào Thị T; có vợ là Nguyễn Thị P và 02 con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: không; bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/01/2025; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đỗ Trọng A – Luật sư Công ty TNHH MTV Đ thuộc đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.

- Bị hại: Công ty TNHH C2; địa chỉ: Số B N, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng. Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Quang T1 – Giám đốc điều hành của Công ty TNHH C2; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ ngày 14/11/2024, Nguyễn Thanh S đi bộ từ nhà đến trường THCS H thuộc tổ dân phố P, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng để ăn cơm với ông Đoàn Văn T2 là bảo vệ của trường. Đến 18 giờ cùng ngày, sau khi ăn xong, S đi bộ về nhà, khi đi ngang qua khu vực lán nhà xe của trường H, phát hiện 01 camera nhãn hiệu EZVIZ màu trắng là tài sản của Công ty TNHH C2 (gọi tắt là Công ty C2) được buộc bằng dây thép nhỏ trên cột tường bao. S nảy sinh ý định trộm cắp nên đã trèo lên bờ rào sắt giật camera xuống. Thấy đèn camera vẫn sáng, S lấy tấm vải cũ gần đó cuộn chùm camera vừa trộm cắp được mang về nhà đặt trên bàn uống nước. Đến 10 giờ ngày 15/11/2024, khi bị Công an phường H triệu tập làm việc, S đã mang camera đến giao nộp.

Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 10/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận D kết luận: 01 (một) cụm Camera nhãn hiệu EZVIZ, bên trong có 01(một) thẻ nhớ nhãn hiệu SanDisk Ultra loại 128 GB, đã qua sử dụng từ tháng 6/2024 có trị giá 2.400.000 đồng

Vật chứng: 01 (một) cụm Camera nhãn hiệu EZVIZ màu trắng và 01 (một) thẻ nhớ nhãn hiệu SanDisk Ultra loại 128 GB chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận Dương Kinh quản lý.

Trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Quang T1 là đại diện Công ty TNHH C2 không yêu cầu bồi thường.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 05 tháng 3 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Thanh S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn trình bày xin lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh tại phiên tòa trình bày luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S với mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì điều kiện kinh tế khó khăn. Về vật chứng: Trả lại cho bị hại 01 cụm Camera nhãn hiệu EZVIZ màu trắng và 01 thẻ nhớ nhãn hiệu SanDisk Ultra loại 128 GB. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đề nghị xem xét giải quyết. Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Việc điều tra, truy tố và đưa ra xét xử đối với bị cáo về hành vi Trộm cắp tài sản là đúng người đúng tội. Đồng ý về tội danh, mức hình phạt; về tình tiết giảm nhẹ áp dụng cho bị cáo: Đề nghị áp dụng điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận D, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, Kết luận định giá tài sản và các tài liệu, người làm chứng, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 14/11/2024 tại tổ dân phố P, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Thanh S có hành vi lén lút chiếm đoạt của Công ty TNHH con đường AVN 01 cụm Camera bên trong có 01 thẻ nhớ loại 128 GB trị giá 2.400.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng nhì, Hạng ba nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, i, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy quan điểm của người bào chữa cho bị cáo cơ bản phù hợp với quy định pháp luật và các tình tiết trong vụ án vì vậy được Hội đồng xét xử ghi nhận và xem xét khi quyết định hình phạt.

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp cá nhân là khách thể được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2); bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; ngoài lần phạm tội này các bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung; đồng thời còn thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không phải xem xét giải quyết.

[8] Về vật chứng: Hiện Chi cục thi hành án dân sự quận D đang quản lý 01 cụm Camera nhãn hiệu EZVIZ màu trắng và 01 thẻ nhớ nhãn hiệu SanDisk Ultra loại 128 GB. Xét thấy, số vật chứng là tài sản hợp pháp của bị hại, còn giá trị sử dụng, bị hại có đơn xin lại tài sản nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị hại.

[9] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi và xin miễn án phí nên căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

  • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thanh S cho UBND phường H, quận D, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự:

Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.

Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Miễn bị cáo án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Dương Kinh;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan điều tra CA TP. Hải Phòng;
  • - PV06; PC 10;
  • - Chi cục THADS quận Dương Kinh;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú,
  • - Cơ quan THAHS có thẩm quyền
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Mỹ H - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger