Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG THỦY

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày: 09/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Viết Tân và ông Nguyễn Văn Phương.

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, thành phố Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, thành phố H - số F Đ, phường P, thị xã H, thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2025, đối với:

Bị cáo Nguyễn Văn L, tên gọi khác: Không; sinh ngày 01 tháng 4 năm 1960, tại thành phố H; nơi thường trú: Số E Ông Í, phường Đ, quận P, thành phố H; nơi ở hiện tại: P29, H, Khu V, phường H, quận P, thành phố H; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (Nguyễn Văn S, chết) và bà Lê Thị H (chết); vợ: Nguyễn Thị T; con: có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1995 (chết);

Nhân thân:

  • - Ngày 14/4/1977, bị Ủy ban nhân dân tỉnh B ra Quyết định số 1103 đưa đi cải tạo tập trung tại Trại giam H1, tỉnh Quảng Trị 03 năm.
  • - Ngày 07/10/1982, trộm cắp tài sản bị Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh lập danh chỉ bản số 4587;
  • Ngày 21/11/1983, cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản, bị Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh lập danh chỉ bản số 2728.
  • - Ngày 18/4/1987, trộm cắp tài sản bị Công an quận C, Thành phố Hồ Chí Minh lập danh chỉ bản số 18008.
  • - Ngày 19/9/1987, trộm cắp tài sản bị Công an quận C, Thành phố Hồ Chí Minh lập danh chỉ bản số 18981.
  • - Ngày 12/6/1991, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế (cũ), xử phạt 03 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 43).
  • - Ngày 10/10/1991, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế (cũ), xử phạt 18 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 79).
  • - Ngày 17/8//1993, trộm cắp tài sản bị Công an tỉnh T (cũ) lập danh chỉ bản số 7549.
  • - Ngày 19/5/1994, bị Tòa án nhân dân huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé (cũ) (nay là thành phố T, tỉnh Bình Dương), xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 24).
  • - Ngày 26/8/1997, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thành, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 24 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 325).
  • - Ngày 01/01/1998, bị Ủy ban nhân dân tỉnh B ra Quyết định số 1103 đưa đi cải tạo tập trung 03 năm.
  • - Ngày 28/11/2000, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế (cũ), xử phạt 24 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 120/HSST); chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/02/2002.
  • - Ngày 10/01/2005, bị Công an thành phố H (cũ) xử phạt vi phạm hành chính 100.000 đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”. (Quyết định số: 54277/QĐ-XPHC).
  • - Ngày 23/01/2008, bị Công an thành phố H (cũ) xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”. (Quyết định số: 4996/QĐ-XPHC).
  • - Ngày 08/3/2010, bị Công an thành phố H (cũ) xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”. (Quyết định số: 21150/QĐ-XPHC).
  • - Ngày 25/10/2012, bị Công an thành phố H (cũ) xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”. (Quyết định số: 2721/QĐ-XPHC).
  • - Ngày 24/9/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế (cũ), xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 245/2013/HSST); chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/4/2014.
  • - Ngày 15/5/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế (cũ), xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 98/2015/HSST); chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2016.
  • - Ngày 12/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 35/2016/HSST); chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/11/2018.

Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/11/2024 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Ông Lưu Văn T1, sinh năm 1956; địa chỉ: Số A đường P, Tổ I, phường T, thị xã H, thành phố H. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Như T2, sinh năm 1973; địa chỉ: Số A đường L, quận T, thành phố H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 07/11/2024, Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75F4-7916 (xe của L) đi ngang qua nhà của ông Lưu Văn T1 (sinh năm 1956, địa chỉ: số A đường P, tổ I, phường T, thị xã H, thành phố H), phát hiện nhà đang xây dựng không có người trong coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. L đi vào trong nhà, thấy trong phòng thứ 2 (tính từ trái sang phải, nhìn từ ngoài vào trong), có một số thiết bị vệ sinh nên bị cáo đã lén lút lấy 03 bộ giá đỡ bằng sắt của chậu rửa hiệu TOTO, 02 vòi chậu hiệu TOTO, loại TLG04301V, 01 bộ thoát nước thải chậu rửa hiệu TOTO, loại TVLF 405, đưa ra ngoài đường. Sau đó, L sử dụng xe mô tô trên chở các tài sản trộm cắp được đến bán cho cửa hàng điện nước của ông Trần Như T2 (sinh năm 1973, địa chỉ A Bà T, phường P, quận T, thành phố H) với giá 1.100.000 đồng.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô hiệu LONGCIN, biển kiểm soát 75F4-7916; 01 bộ thoát nước thải chậu rửa, hiệu TOTO loại TVLF405; 02 vòi chậu, nhãn hiệu TOTO loại TLG040310V; 03 giá đỡ bằng sắt chậu rửa hiệu TOTO, loại TL516GV.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 78/KL-HĐĐGTS ngày 09 tháng 11 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thị xã H kết luận: 02 vòi chậu, nhãn hiệu TOTO loại TLG040310V, giá trị: 5.800.000 đồng; 03 giá đỡ bằng sắt cho chậu rửa hiệu TOTO, loại TL516GV, giá trị: 3.000.000 đồng; 01 bộ thoát nước thải chậu rửa hiệu TOTO, loại TVLF405 giá trị: 1.000.000 đồng. Tổng giá trị định giá là 9.800.000 đồng (Chín triệu tám trăm ngàn đồng).

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bộ thoát nước thải chậu rửa, hiệu TOTO loại TVLF405; 02 vòi chậu, nhãn hiệu TOTO loại TLG040310V; 03 giá đỡ bằng sắt chậu rửa hiệu TOTO, loại TL516GV đã trả cho chủ sở hữu. Đối với các vật chứng còn lại chuyển cho Cơ quan thi hành án dân sự thị xã H để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường về mặt dân sự.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Như T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSHTh ngày 06/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, thành phố H đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 09 tháng đến 01 năm tù. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội: 01 xe mô tô hiệu LONGCIN, biển kiểm soát 75F4-7916 của bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bị hại ông Lưu Văn T1 có ý kiến đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo vì hoàn cảnh khó khăn nên mới thực hiện hành vi phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Đã có cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 07/11/2024, tại tổ I, phường T, thị xã H, thành phố H; Nguyễn Văn L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Lưu Văn T1 02 vòi chậu, nhãn hiệu TOTO loại TLG040310V; 03 giá đỡ bằng sắt cho chậu rửa hiệu TOTO, loại TL516GV và 01 bộ thoát nước thải chậu rửa hiệu TOTO, loại TVLF405 với tổng trị giá là 9.800.000 đồng (Chín triệu tám trăm ngàn đồng). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố bị cáo theo bản cáo trạng số 17/CT-VKSHTh ngày 06/3/2025 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì lòng tham nên bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Bị cáo Nguyễn Văn L có đặc điểm nhân thân rất xấu, nhiều lần bị kết án, xử lý về các tội danh xâm phạm sở hữu nhưng không lấy đó làm bài học, tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần xử phạt nghiêm bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo L không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường về mặt dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội: 01 xe mô tô hiệu LONGCIN, biển kiểm soát 75F4-7916 của bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội: “Trộm cắp tài sản".

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 09/11/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội: 01 xe mô tô hiệu LONGCIN, biển kiểm soát 75F4-7916 của bị cáo.

(Vật chứng trên có đặc điểm theo Quyết định chuyển vật chứng số 15/QĐ-VKSHTh ngày 06/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thuỷ và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thuỷ).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - Công an thành phố Huế;
  • - VKSND thị xã Hương Thủy;
  • - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ sở giam giữ bị cáo;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; NCQLNVLQ;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quỳnh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger