TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST Ngày: 03-4-2025 V/v tranh chấp Hôn nhân & gia đình |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiện
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và ông Nguyễn Hạ Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 39/2025/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 20/2025/QÐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mai L - sinh năm 1996 (có mặt)
Nguyên quán và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã P, huyện Ứ, thành phố Hà Nội
Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã C, huyện Ứ, thành phố Hà Nội
*Bị đơn: Anh Phan Tiến D – sinh năm 1993 (vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã C, huyện Ứ, thành phố Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn ly hôn và các buổi làm việc tại Tòa chị Nguyễn Thị Mai L là nguyên đơn trình bày: chị và anh Phan Tiến D qua một thời gian tìm hiểu thì cả hai kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã S nay là xã C năm 2014. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể tìm thấy tiếng nói chung; cái tôi của mỗi người quá lớn nên không thể hòa hợp được với nhau; vợ chồng liên tục xích mích nhau cãi nhau thường xuyên. Kết hôn được ít tháng thì anh D đi chấp hành án mấy năm, trong thời gian anh D đi chấp hành án thì chị về ngoại ở, sau đó khi chấp hành án 4 năm thì anh D về mong muốn vợ chồng đoạn tụ xong vợ chồng đoàn tụ thì đến năm 2022 anh lại đi chấp hành án. Khi anh về thì vợ chồng quay lại được mấy tháng chị thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Bản thân anh D không tu chí làm ăn, thường xuyên chơi bời; không đỡ đần công việc phụ giúp gia đình và có nhiều mối quan hệ xã hội mà chị thấy không phù hợp nên chị đưa cháu thứ hai về ngoại sống ly thân hơn năm nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên chị cương quyết xin ly hôn anh D. Về con chung: có 02 con chung là Phan Việt A – sinh ngày 30/7/2019 và Phan Tuệ N – sinh ngày 11/10/2022. Khi ly hôn chị đề nghị Toà giải quyết cho chị nuôi cháu N, anh D nuôi cháu Việt A và không đề nghị Toà giải quyết tiền cấp dưỡng nuôi con. Vì trong nhưng năm ly thân thì cháu Việt A ở với ông bà nội và bố; đồng thời cháu là con trai; còn cháu N là con gái. Về tài sản và công nợ chung: chị không đề nghị Toà giải quyết.
Bị đơn - anh Phan Tiến D trình bày: anh và chị Nguyễn Thị Mai L qua một thời gian tìm hiểu thì cả hai kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã S nay là xã C năm 2014. Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng diễn ra bình thường xong anh cũng có thời gian đi chấp hành án mấy năm nên tỉnh cảm vợ chồng có thay đổi, anh cũng khuyên chị L quay về đoàn tụ nhưng chị L không đồng ý. Hai vợ chồng đã ly thân được khoảng một năm. Nay chị L có đơn ly hôn, anh tôn trọng quyết định của chị L. Về con chung: có 02 con chung là Phan Việt A – sinh ngày 30/7/2019 và Phan Tuệ N – sinh ngày 11/10/2022. Khi ly hôn mỗi người nuôi một, anh nuôi cháu Việt A, chị L nuôi cháu N. Về tài sản và công nợ chung: anh không đề nghị Toà giải quyết.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt; các đương sự không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ và đều không có ý kiến thay đổi khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa có quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Tòa giải quyết xử cho chị Nguyễn Thị Mai L được ly hôn anh Phan Tiến D. Về con chung: giao chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng Phan Tuệ N – sinh ngày 11/10/2022; giao anh D là người nuôi dưỡng cháu Phan Việt A – sinh ngày 30/7/2019; tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với chị L và anh D cho đến khi có thay đổi khác. Chị L phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đợc thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của các đơng sự, H đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về phạm vi khởi kiện, quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị Mai L có đơn xin đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa giải quyết cho anh được ly hôn anh Phan Tiến D và giải quyết về con chung. Do vậy, đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS.
Về thẩm quyền: Quan hệ pháp luật là tranh chấp Hôn nhân và gia đình, bị đơn là anh Phan Tiến D có đăng ký nơi cư trú: thôn N, xã C, huyện Ứ, thành phố Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Hội đồng xét xử đã mở phiên toà ngày 28/3/2025 nhưng vắng mặt của anh D nên Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, tại phiên toà hôm nay mặc dù được triệu tập hợp lệ lần thứ hai anh D vắng mặt không có lý do chính đáng nên căn cứ Điều 227, Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mai L và anh Phan Tiến D đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã S nay là xã C, huyện Ứ, TP . ngày 10/3/2014 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thì thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm thấy tiếng nói chung; vợ chồng sống ly thân nhiều năm nay. Qua xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp: cuộc sống chung giữa vợ chồng chị L và anh D mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, bản thân anh D đi chấp hành án mấy năm; vợ chồng sống ly thân khoảng một năm. Nay chị L có đơn ly hôn, chính quyền địa phương có ý kiến: đề nghị Tòa căn cứ vào thực tế và quy định của pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.
Xét thấy: cuộc sống hôn nhân của chị L và anh D mâu thuẫn đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt; đồng thời anh D cũng có quan điểm tôn trọng quyết định ly hôn của chị L nên xét thấy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị L là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Mai L và anh Phan Tiến D có 02 con chung cháu Phan Việt A – sinh ngày 30/7/2019 và cháu Phan Tuệ N – sinh ngày 11/10/2022. Chị L và anh D đều có quan điểm mỗi người nuôi một con, chị L nuôi cháu N, anh D nuôi cháu Việt A. Xét thấy, ý kiến về việc nuôi con của các anh chị là tự nguyện và phù hợp quan điểm của nhau. Đồng thời, xét thấy về tuổi, giới tính và chỗ ở hiện tại thì việc giao cháu N cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Việt A cho anh D chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của hai anh chị cũng như ý kiến đại diện địa phương: đề nghị Toà căn cứ thực tế và quy định pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi, sự phát triển tâm sinh lý của trẻ nhỏ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao chị L nuôi cháu N; giao anh D nuôi cháu Việt A là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chị L không đề nghị giải quyết tiền cấp dưỡng nên tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với anh D cho đến khi có thay đổi khác; anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị Mai L và anh Phan Tiến D không đề nghị Tòa giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Mai L phải nộp án phí ly hôn. Các đương sự đều được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mai L được ly hôn anh Phan Tiến D.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Mai L và anh Phan Tiến D có 02 con chung. Khi ly hôn, giao chị L là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Phan Tuệ N – sinh ngày 11/10/2022; giao anh D là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Phan Việt A – sinh ngày 30/7/2019; tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với chị L, anh D cho đến khi có đề nghị thay đổi khác. Chị L, anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị Mai L và anh Phan Tiến D đều không đề nghị Toà giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mai L phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0012159 ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, TP ..
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhân:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Thiện |
Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân & gia đình
- Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân & gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA
