Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH ĐẠI

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 02/4/2025

“V/v không công nhận quan hệ vợ chồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thùy Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Tuấn Khanh; Ông Đặng Hoàng Mích

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 10/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 về việc ly hôn.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 63/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 42/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị C, sinh năm 1981;

Địa chỉ: Ấp 6, xã Bình Thắng, huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre

2. Bị đơn: Ông Võ Văn H, sinh năm 1982

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

(Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/01/2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị C trình bày:

Bà và ông Võ Văn H sống chung với nhau vào năm 2004 trên tinh thần tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống giữa bà và ông H hạnh phúc đến tháng 5/2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai bên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông H thường xuyên cờ bạc và có mối quan hệ tình cảm với người khác, không lo cho cuộc sống gia đình; bà đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông H không sửa đổi. Do không thể hàn gắn được nên bà xin ly hôn với ông H.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Tại Đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt đề ngày 13/3/2025, nguyên đơn bà Trần Thị C trình bày:

Bà xin được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án. Các ý kiến, yêu cầu trong đơn khởi kiện cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án từ trước đến nay bà vẫn giữ nguyên, yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đây là sự tự nguyện của bà, bà cam đoan không khiếu nại về việc Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt bà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Bà Trần Thị C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Võ Văn H (nơi cư trú tại ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre). Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định đây là vụ án về “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

[1.2] Nguyên đơn bà Trần Thị C vắng mặt tại phiên tòa, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Võ Văn H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Trần Thị C và ông Võ Văn H.

[2] Về nội dung:

Theo trình bày của bà Trần Thị C thì bà và ông Võ Văn H tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2004 nhưng không có đăng ký kết hôn. Do quá trình chung sống, giữa bà Trần Thị C và ông Võ Văn H phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông H thường xuyên cờ bạc và có mối quan hệ tình cảm với người khác, không lo cho cuộc sống gia đình, bà đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông H không sửa đổi, nhận thấy không thể hàn gắn được nên bà xin ly hôn với ông H.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bình Đại đã tiến hành thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho ông Võ Văn H theo đúng quy định của pháp luật đối với thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các tài liệu, chứng cứ kèm theo; thông báo về phiên hòa giải nhưng ông Võ Văn H đều vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án gửi cho Tòa án. Điều này chứng tỏ ông Võ Văn H biết việc bà Trần Thị C xin ly hôn với ông nhưng ông không có kiến. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

Căn cứ lời trình bày của bà Trần Thị C, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Trần Thị C và ông Võ Văn H sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn nên giữa bà và ông H không tồn tại quan hệ hôn nhân theo quy định của pháp luật. Nay bà Trần Thị C xin ly hôn với ông Võ Văn H, căn cứ quy định tại các điều 51 và 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị C và ông Võ Văn H.

Về con chung: Bà Trần Thị C khai không có nên không xét đến.

Về tài sản chung: Bà Trần Thị C khai không có nên không xét đến.

Về nợ chung: Bà Trần Thị C khai không có nên không xét đến.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị C phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng các điều 14, 51, 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị C, cụ thể: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị C và ông Võ Văn H.
  2. Về con chung: Bà Trần Thị C khai không có nên không xét đến.
  3. Về tài sản chung: Bà Trần Thị C khai không có nên không xét đến.
  4. Về nợ chung: Bà Trần Thị C khai không có nên không xét đến.
  5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008143 ngày 10/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Ghi nhận bà Trần Thị C đã nộp đủ án phí.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Bình Đại;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Đại;
  • - TAND tỉnh Bến Tre (Phòng TT, KT&THA);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thùy Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về v/v không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: V/v không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị C - Võ Văn H không công nhận quan hệ vợ chồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger