|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 22/2025/HS-ST Ngày 27-3-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đức Tụ
Ông Nguyễn Văn Quyết
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ly Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Đoàn Minh T, sinh ngày 10-12-1982 tại Thái Bình. Nơi cư trú: Tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Vũ V và bà Trần Thị H; có vợ là Hoàng Thị T1 và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27/QĐ -XPVP ngày 20-02-2012 của Phòng C Công an tỉnh T phạt Đoàn Minh T 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) về hành vi Đánh bạc, T đã nộp phạt vào ngày 20-02-2012 (đã được xóa); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26-11-2024 đến nay; có mặt
- Bị hại: Ông Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1962; nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (chết ngày 04-8-2024).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Bà Nguyễn Thị P; nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (là vợ của bị hại); vắng mặt
- Anh Nguyễn Đình Đ1; nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (là con của bị hại); vắng mặt
- Anh Nguyễn Đình Đ2; nơi cư trú: T, Buôn Ma T2, tỉnh Đắk Lắk (là con của bị hại); vắng mặt
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Đình Đ2: Anh Nguyễn Đình Đ1; nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; vắng mặt
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn V1; địa chỉ: Số G, đường T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn Đ3 - Giám đốc; vắng mặt
Người làm chứng: Ông Vũ Văn T3; ông Hoàng Đức P1; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 22 tháng 7 năm 2024, Đoàn Minh T (có giấy phép lái xe hạng FC do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 20-6-2022 có giá trị đến ngày 20-6-2027) điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-006.32 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 16R-2996 đi theo đường vành đai về K và di chuyển đến cây xăng dầu C, huyện A rồi đỗ xe lại. Tiệp ngủ trên xe đến khoảng 05 giờ 25 phút cùng ngày thì di chuyển theo hướng Cầu K đi thị trấn T về Cầu Đ Khi qua cầu G xã N (nay là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng, T điều khiển xe đi thẳng theo hướng Trung tâm y tế huyện V rẽ phải ra Quốc lộ A, hướng Thái Bình đi Hải Phòng. Khi cách điểm mở đối diện với cây xăng bến xe V2 khoảng 50 đến 70 mét, T quan sát gương chiếu hậu phía sau xe có 02 xe mô tô đi cùng chiều phía sau cách đuôi xe Tiệp khoảng 50 mét. Tiệp nghĩ an toàn nếu quay đầu xe, người điều khiển phương tiện phía sau có thể trách hoặc dừng lại để xe Tiệp sang đường. Khi T đánh lái sang trái quay đầu xe đi đến trước cây xăng bến xe V thì nghe thấy có người truy hô xảy ra tai nạn. Tiệp đạp phanh để dừng lại, khi xuống xe T phát hiện xe Tiệp điều khiển xảy ra va chạm giao thông với xe mô tô biển kiểm soát 16N5-4139 do ông Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1962 ở thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình điều khiển. Tiệp cùng người dân đi đường là anh Vũ Văn T3, sinh năm 1978 ở thôn N, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng đưa ông Đ đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ5 - V. Tại đây, T thấy ông Đ vẫn nói chuyện được nên để lại số điện thoại của T
cho anh T3 và đi trả hàng, đến ngày 24-7-2024, T đến phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố H trình báo vụ việc. Ông Đ được chuyển đến Bệnh viện V3 để điều trị, đến ngày 04-8-2024 ông Đ tử vong tại bệnh viện.
Tại biên bản dựng lại hiện trường ngày 25-7-2024 xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn thuộc khu vực K+200 trên Quốc lộ A thuộc địa phận xã N (nay là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng. Điểm mốc cố định là chân biển báo số 1.423, mép chuẩn là mép đường giả định bên phải theo chiều từ thành phố Hải Phòng đi tỉnh Thái Bình. Vị trí (1) là xe đầu kéo biển kiểm soát 15H-006.32 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 16R-2996, nằm trên làn đường thứ nhất và thứ hai tính từ phải qua trái theo chiều từ thành phố Hải Phòng đi tỉnh Thái Bình, đầu xe hướng về tỉnh Thái Bình, đuôi xe hướng về thành phố Hải Phòng. T4 trục I bên phải cách mép chuẩn là 1,1 mét, cách vị trí cố định là 5,6 mét và nằm trên phần đường dành riêng cho người đi bộ. T4 trục II bên phải cách mép chuẩn là 90 cm; cách tâm trục bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 16N5-4139 là 1,8 mét. T4 trục III bên phải cách mép chuẩn là 1,5 mét. Vị trí (2) là xe mô tô biển kiểm soát 16N5 - 4139 đầu xe hướng vào lề đường chuẩn, đuôi xe hướng ra tâm đường và không bị đổ, tựa sát vào đầu khung chắn bảo vệ bên trái dưới gầm của vị trí (1), tâm trục bánh xe phía trước cách mép chuẩn là 2,2 mét, tâm trục bánh xe phía sau cách mép chuẩn là 3,6 mét, đến ngang vị trí đầu của nạn nhân là 4,9 mét. Ví trí (3) đánh dấu nơi nạn nhân bị ngã nằm tại hiện trường, nạn nhân nằm trên làn đường thứ hai tính từ phải qua trái theo chiều từ thành phố Hải Phòng đi tỉnh Thái Bình, đầu nạn nhân hướng ra tâm đường nằm ngang so với vị trí (1), chân nạn nhân hướng về mép chuẩn, khoảng cách từ đầu nạn nhân đến mép chuẩn là 3,9 mét.
Tại biên bản khám nghiệm tử thi ông Nguyễn Đình Đ thể hiện: Cẳng tay phải được cố định bằng nẹp gỗ quấn băng dính trắng. Đường trắng giữa bụng có vết mổ dài 25cm được khâu kín, bụng chướng dịch. Dấu vết thương tích: Da và niêm mạc nhợt. Ngực, bụng xây xước trợt da rải rác, kích thước (35x40)cm. Vùng thắt lưng xây xước, mài trượt da, kích thước (30x35)cm. Mặt sau mông trái và đùi trái xây xước, trợt da, kích thước: (15x25)cm. Rải rác xung quanh cánh tay trái có một số vết xây xước, trợt da nhỏ.
Tại bản kết luận giám định tử thi số 2519/KL-KTHS ngày 26-8-2024 của Phòng C Công an thành phố H kết luận về nguyên nhân chết của ông Nguyễn Đình Đ như sau: “Cơ chế hình thành thương tích: Do va đập mạnh. Nguyên nhân chết: Sốc chấn thương ngực - bụng kín không hồi phục”.
Tại bản kết luận giám định dấu vết va chạm số 2613/KL-KTHS ngày 04-9-2024 của Phòng C Công an thành phố H kết luận: Dấu vết trượt xước kim loại, mất bụi bẩn màu xám, bám dính tạp chất màu đen (dạng nhựa) theo chiều từ trước về sau, từ trái sang phải gầm rơ moóc biển kiểm soát 16R-2996 kéo sau xe Container biển kiểm soát 15H-006.32 phù hợp với dấu vết trượt xước nhựa màu đen, bám
dính tạp chất màu xám (dạng bụi bẩn) theo chiều từ sau về trước tại mặt ngoài phía trên chắn bùn bánh xe phía sau trên xe mô tô biển kiểm soát 16N5-4139. Các dấu vết này được hình thành khi hai phương tiện chuyển động gần như vuông góc va chạm với nhau.
Tại phiếu kết quả xét nghiệm ngày 24-7-2024 đối với Đoàn Minh T thể hiện: Định lượng Alcol etanol: 0.00 mmol/L và âm tính với các chất gây nghiện tổng hợp.
Tại Công văn số 1884/CV ngày 20-8-2024 của Sở giao thông vận tải tỉnh T trả lời: Đoàn Minh T được cấp giấy phép lái xe hạng FC, có thời hạn từ ngày 20-6-2022 đến ngày 20-6-2027.
Tại Cơ quan điều tra, Đoàn Minh T khai nhận: Khoảng 05 giờ 55 phút 22-7-2024, T điều khiển xe đầu kéo biển kiểm soát 15H-006.32 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 16R-2996 đi trên Quốc lộ A hướng tỉnh Thái Bình đi thành phố Hải Phòng. Khi cách điểm mở đối diện với bến xe V khoảng 50 đến 70 mét, T điều khiển xe giảm tốc độ, bật xi nhan trái, quan sát gương chiếu hậu bên trái thì thấy cách xe Tiệp về phía sau khoảng 50 đến 100 mét có các phương tiện đi phía sau. Khi đầu xe qua vạch xương cá ở điểm mở, Tiệp quan sát gương chiếu hậu phía sau của xe thì thấy có 02 xe mô tô đi cùng chiều phía sau cách đuôi xe Tiệp khoảng 50 mét, nhưng T vẫn đánh lái sang trái để quay đầu xe. Khi quay đầu xe đi đến trước cây xăng bến xe V2 thì T nghe thấy tiếng có người hô hét ở đầu xe, T đạp phanh xe dừng lại, sau đó xuống xe thì phát hiện xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 16N5-4139 do ông Nguyễn Đình Đ điền khiển. Tiệp cùng anh Vũ Văn T3 chở người này đến Bệnh viện Đ5 - V để cấp cứu. Do thấy ông Đ nói chuyện được nên T nghĩ thương tích nhẹ và cho số điện thoại của T cho anh T3 để người nhà ông Đ liên lạc với T, sau đó tiếp tục đi chở hàng. Sáng ngày 23-7-2024, T đã quay lại bệnh viện để thăm hỏi ông Đ. Đến ngày 24-7-2024, T đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố H trình báo sự việc. Ngày 04-8-2024, T biết tin ông Đ đã tử vong.
Về dân sự: Bị cáo Đoàn Minh T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Đình Đ số tiền 250.000.000 đồng. Đại diện theo uỷ quyền của gia đình ông Đ không có yêu cầu đề nghị gì thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho T. Đối với các thiệt hại của xe đầu kéo biển kiểm soát 15H-006.32 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 16R-2996 và xe mô tô biển kiểm soát 16N5-4139, Công ty Trách nhiệm hữu hạn V1 và đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã thu giữ xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-006.32 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 16R-2996, giấy chứng nhận đăng ký, giấy chứng nhận kiểm định, giấy chứng nhận điện tử bảo hiểm xe ô tô, xe mô tô biển kiểm soát 16N5-4139 và 01 đăng ký xe. 01 giáy phép
lái xe hạng FC mang tên Đoàn Minh T; 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Đình Đ.
Với các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 11-11-2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định khởi tố vụ án; ngày 26-11-2024 ra Quyết định khởi tố bị can đối với Đoàn Minh T về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự;
Bản cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 11 tháng 3 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo đã truy tố Đoàn Minh T về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Đoàn Minh T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội khẳng định việc truy tố Đoàn Minh T về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Căn cứ vào tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Đoàn Minh T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, phạt Tiệp từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách án treo từ 30 đến 36 tháng. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo. Về dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét giải quyết. Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; trả lại bị cáo Đoàn Minh T 01 giấy phép lái xe. Về án phí: Bị cáo Đoàn Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố
tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh và hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, phù hợp với kết luận của bản kết luận giám định pháp y và các chứng cứ khác có trong hồ sơ đã đủ cơ sở xác định: Khoảng 05 giờ 55 phút ngày 22-7-2024, tại Km 53+200 điểm quay đầu trên Quốc lộ A, thuộc địa phận thôn N, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng, Đoàn Minh T (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-006.32 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 16R-2996 chuyển hướng nhưng thiếu quan sát, không đảm bảo khoảng cách an toàn cho xe phía sau, vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều 15 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, gây tai nạn làm ông Nguyễn Đình Đ tử vong. Hành vi của bị cáo Đoàn Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, xâm phạm đến tính mạng của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo pháp luật của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đoàn Minh T có 01 tiền sự đã được xóa. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại và được người đại diện hợp pháp của bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong vụ án này, bị hại cũng có một phần lỗi do điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16N5-4139 không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong điều kiện trời mưa ảnh hưởng đến an toàn giao thông đường bộ và khi có tín hiệu xin đường của xe đi cùng chiều phía trước là vi phạm quy định tại điểm m, h Khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo luôn thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, bị cáo phạm tội do lỗi vô ý. Vì vậy, để đảm bảo mục đích của hình phạt là răn đe, phòng ngừa tội phạm, đồng thời tạo điều kiện để giáo dục
bị cáo trở thành công dân tốt, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh của bị cáo là lao động chính trong gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về dân sự: Bị cáo Đoàn Minh T đã tự nguyện bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản thiệt hại nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã thu giữ xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-006.32 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 16R-2996, giấy chứng nhận đăng ký, giấy chứng nhận kiểm định, giấy chứng nhận điện tử bảo hiểm xe ô tô và xe mô tô biển kiểm soát 16N5-4139, 01 đăng ký xe mô tô. 01 giấy phép lái xe hạng FC mang tên Đoàn Minh T, 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Đình Đ. Qua xác minh, xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-006.32 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 16R-2996, các giấy tờ xe ô tô là tài sản hợp pháp của Công ty Trách nhiệm hữu hạn V1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe ô tô và các giấy tờ xe cho Giám đốc Công ty là ông Trịnh Văn Đ4, sinh năm 1969 ở số C, lô B, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng là phù hợp. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 16N5-4139, giấy đăng ký xe và giấy phép lái xe mang tên ông Đ là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Đình Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô cho người đại diện theo uỷ quyền của gia đình ông Đ là anh Nguyễn Đình Đ1, sinh năm 1983 (con ông Đ) ở thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Đối với giấy phép lái xe hạng FC số [...] mang tên Đoàn Minh T do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 20-6-2022 là của bị cáo nên trả lại cho bị cáo tài sản này.
- Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Đoàn Minh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Đoàn Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt:
Bị cáo Đoàn Minh T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách án treo là 30 (Ba mươi) tháng. Thời hạn thử thách án treo tính từ ngày tuyên án.
Giao Đoàn Minh T cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Đoàn Minh T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự như sau:
Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú; lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
Người chấp hành án không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án.
Căn cứ Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Đoàn Minh T.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; trả lại bị cáo Đoàn Minh T 01 giấy phép lái xe hạng FC số [...] mang tên Đoàn Minh T do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 20-6-2022 (Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo ngày 11-3-2025).
Về án phí: Căn khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; xử bị cáo Đoàn Minh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương Huyền |
Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 22/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự bị cáo Đoàn Minh T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
