Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH TƯỜNG

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày 26 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Triển

Ông Phùng Văn Thông

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Tạ Việt Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2025/TLST- HS ngày 12 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Triệu Thị H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 26 tháng 9 năm 1998 tại xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc;

Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn T và bà Nguyễn Thị T1; có chồng Đào Tiến D (đã ly hôn), con: 02 con (con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/01/2025 đến ngày 08/01/2025 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh V (có mặt).

Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ dân phố S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 02/01/2025, Tổ công tác Công an huyện V đang làm nhiệm vụ tại thôn X, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện, bắt quả tang Triệu Thị H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

* Tang vật thu giữ, tạm giữ:

  • - Thu tại tay phải H đang cầm 01 gói giấy loại phong bì thư, mở ra bên trong chứa 01 túi nilon không màu, miệng túi có mép vuốt và đường kẻ chỉ màu cam. Bên trong túi này chứa 01 túi nilon không màu, miệng túi có mép vuốt và đường kẻ chỉ màu xanh chứa các hạt tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu là A1) và 02 viên nén có đặc điểm giống nhau đều màu xám, một mặt in hình đầu sư tử (niêm phong ký hiệu là A2)
  • - Thu giữ tại vị trí ghế phụ bên phải phía trước xe taxi BKS: 29H – 955.22 chỗ H ngồi hộp nhựa (loại hộp đựng tăm chỉ nha khoa), bên trong chứa 03 túi nilon không màu, miệng túi có mép vuốt và đường kẻ chỉ màu xanh bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu là A3); 02 viên nén có đặc điểm giống nhau đều màu xám một mặt in hình đầu sư tử (niêm phong ký hiệu là A4); 01 túi nilon không màu, miệng túi có mép vuốt và đường kẻ chỉ màu cam, bên trong chứa 03 viên nén có đặc điểm giống nhau đều màu trắng xám, hình tam giác (niêm phong ký hiệu là A5).

Ngày 02/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã có Quyết định trưng cầu giám định số 16/QĐ-ĐCSHSKTMT trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định chất ma túy đối với các mẫu vật A1, A2, A3, A4, A5 nêu trên.

Tại Kết luận giám định số 69/KLGĐ ngày 06/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh V đã kết luận:

“Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,9167gam, loại Ketamine.

02 viên nén đều có màu xám của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,8007gam, loại MDMA.

Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu A3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,4146 gam, loại Ketamine.

02 viên nén đều có màu xám của mẫu ký hiệu A4 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,7971, loại MDMA

03 viên nén đều có màu xám của mẫu ký hiệu A5 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,2606 gam, loại MDMA”.

Về nguồn gốc ma túy, Triệu Thị H khai nhận: Khoảng hơn 12 giờ 00 phút ngày 02/01/2025, H đang ở nhà tại thôn Q, xã T, huyện T thì nảy sinh nhu cầu muốn sử dụng ma túy kẹo, ma túy ketamine. Do biết một người đàn ông không quen biết thường bán ma túy ở khu vực N thuộc thành phố V nên H đi ra đường lớn và gọi xe taxi do anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1989, trú tại tổ dân phố S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc điều khiển để đi mua ma tuý. Khi đi đến đầu một ngõ nhỏ thuộc khu N, H xuống xe đi bộ vào trong ngõ. Sau khi đi vào được khoảng 50m, H gặp một người đàn ông khoảng 20 tuổi có đặc điểm giống với người bán ma túy nên đi đến hỏi “Anh có hàng không để cho em bốn chỉ với bảy viên”, người đó hiểu ý H muốn hỏi mua 04 chỉ ma túy ketamine và 07 viên ma túy kẹo nên đáp lại “Ke một triệu kẹo hai trăm, tổng là năm triệu tư”. H hiểu ý nên lấy ra từ trong túi quần bên trái phía trước H đang mặc số tiền 5.400.000 đồng đưa cho người đàn ông. Người này cầm tiền rồi đưa lại cho H 01 hộp nhựa (loại hộp đựng tăm chỉ nha khoa) bên trong chứa 04 túi ma túy ketamine và 07 viên ma túy kẹo. H cầm số ma túy người đó đưa rồi đi quay lại về phía xe taxi để tìm địa điểm sử dụng. Trên đường đi bộ ra xe taxi, H lấy 01 vỏ túi ni lon có sẵn trong hộp nhựa chứa ma túy vừa mua đút 01 túi ma túy ketamine, 02 viên ma túy kẹo màu xám và cho vào trong 01 túi trong phong bì thư có sẵn trong túi quần với mục đích cất riêng ra sử dụng trước; còn lại số ma túy trong hộp nhựa H đút vào trong túi quần bên phải phía trước đi quay lại và lên xe taxi. Sau khi lên xe taxi, H hướng dẫn anh T2 điều khiển xe đi đến xã C, huyện V để tìm địa điểm sử dụng ma túy. Khi đi đến đoạn đường trước cửa nhà nghỉ Á thuộc thôn X xã C, H bảo anh T2 dừng xe để cho H xuống. Đúng lúc đó tổ công tác Công an huyện V làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại Cáo trạng số: 29/CT-VKS ngày 10 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Triệu Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Triệu Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Triệu Thị H từ 2 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/01/2025.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không bào chữa, tranh luận gì; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Triệu Thị H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 02/01/2025 tại thôn X, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, Triệu Thị H có hành vi tàng trữ trái phép 2,8584 gam ma túy loại MDMA và 3,3313 gam ma túy loại Ketamine để sử dụng cho bản thân.

Căn cứ theo khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 xác định: Ma túy loại MDMA có khối lượng 2,8584 gam thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự; ma túy loại Ketamine có khối lượng 3,3313 gam thuộc trường hợp quy định tại điểm g khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA so với mức tối thiểu đối với MDMA quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 57,168% (2,8584g so với 05g), tỷ lệ phần trăm khối lượng của Ketamine so với mức tối thiểu của Ketamine quy định tại điểm 1 khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 16,656% (3,3313 so với 20g). Tổng tỷ lệ phần trăm của hai loại ma túy là 57,168% + 16,656% = 73,824% thuộc trường hợp dưới 100% theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP. Do vậy, hành vi của Triệu Thị H đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

[3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu rèn luyện, tu dưỡng bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà lại dấn thân vào con đường phạm tội; tàng trữ trái phép chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo là nữ giới, có 02 con nhỏ đang ở độ tuổi cần sự chăm sóc, giáo dục của cha mẹ. Trước khi phạm tội, bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản có giá trị, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[6] Đối với người đàn ông bán ma túy cho H vào ngày 02/01/2025, H khai nhận không quen biết người đàn ông này. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được người đàn ông này là ai, ở đâu. Do vậy, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào làm rõ, xử lý sau là phù hợp với quy định pháp luật.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật A1= 0,7864g; A2=0,3916g; A3 = 2,2925g; A4= 0,3847g; A5 = 0,8713g cùng toàn bộ bao gói được niêm phong theo quy định do Cơ quan giám định hoàn trả sau giám định không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

[8] Về án phí: Bị cáo Triệu Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Triệu Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Triệu Thị H 2 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/01/2025.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn trả lại sau giám định, gồm mẫu vật A1= 0,7864g; A2=0,3916g; A3 = 2,2925g; A4= 0,3847g; A5 = 0,8713g cùng toàn bộ bao gói được niêm phong theo quy định.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Triệu Thị H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Vĩnh Tường;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường;
  • - UBND xã Tam Quan;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger