Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲ HỢP

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HSST

Ngày 25/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Quán Vi Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Thế Quế

Ông Lê Minh Tường

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Kim Thị Mai – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Hào – Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2025/TLST – HS ngày 26 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34 /2025/QĐST–HS ngày 12 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Xuân C, tên gọi khác: Không.

Sinh năm 1998 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An;

Nơi cư trú: Xóm S, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Xuân H, con bà Trần Thị H1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự và nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2024, đến ngày 29/12/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q.

Áp dụng biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú tại: Xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An từ ngày 29/12/2024 cho đến nay. (Có mặt).

Người làm chứng: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1974.

Trú tại: xóm T, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hồi 09 giờ ngày 20/12/2024, tại xóm S, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Công an huyện Q phát hiện Bùi Xuân C vứt lại 01 túi Nilon màu đen rồi bỏ chạy, kiểm tra bên trong túi N có 05 khối đặc điểm giống nhau dạng hình hộp chữ nhật, được bọc ngoài bằng giấy nhiều màu sắc khác nhau có chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối được kết nối bởi 36 ống hình trụ tròn (nghi là pháo nổ). Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Bùi Xuân C đến Công an huyện Q đầu thú.

Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 20/12/2024 của Công an huyện Q đã xác định: 05 khối khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm giống nhau thu giữ của Bùi Xuân C, có tổng khối lượng là 6,3 kilôgam. Tiến hành lấy 02 khối có khối lượng 2,6 kilôgam, ký hiệu mẫu M1 gửi đi giám định.

Kết luận giám định số 55/KL-KTHS(Đ2-CN), ngày 27/12/2024, của Phòng K - Công an tỉnh N xác định: Mẫu vật (ký hiệu M1) thu giữ của Bùi Xuân C gửi giám định là pháo, thuộc loại pháo nổ.

Bản cáo trạng số 24/CT-VKS-QH ngày 25/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp truy tố bị cáo Bùi Xuân C về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Xuân C đã khai nhận: Vào đêm ngày 19/12/2024, Bùi Xuân C đi qua khu vực nhà bà Phạm Thị T hỏi mua pháo nổ, bà Phạm Thị T đồng ý bán 05 giàn pháo với số tiền 6.500.000 đồng, Bùi Xuân C đưa trước số tiền 1.000.000 đồng. Đến sáng ngày 20/12/2024, Bùi Xuân C đi xe mô tô đến nhà bà Phạm Thị T, đưa tiếp số tiền 5.500.000 đồng rồi đi về nhà. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, bà Phạm Thị T gọi điện chỉ chỗ đã cất pháo, Bùi Xuân C đến chỗ đã hẹn lấy 01 túi Nilon màu đen có chứa các khối pháo, bỏ lên giá để hàng của xe mô tô đưa về cất giấu ở gần nhà mình. Khoảng 20 phút sau, Bùi Xuân C đi bộ ra để lấy pháo đi cất giấu thì thấy có nhiều người chạy đến, nghĩ đó là Công an nên Bùi Xuân C vứt túi N bỏ chạy. Sau đó Bùi Xuân C đã đến Cơ quan Công an đầu thú. Bị cáo Bùi Xuân C nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện KSND huyện Q truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Xuân C về tội danh và điều luật như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Xuân C từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng đến 18 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đối với bà Phạm Thị T không thừa nhận bán pháo nổ cho Bùi Xuân C, quá trình khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Thị T, không thu giữ được đồ vật tài liệu gì có liên quan, nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Vật chứng vụ án: 05 hộp pháo nổ có khối lượng 6,3 kg, lấy 02 hộp có khối lượng 2,6 kg giám định, còn 03 hộp khối có khối lượng 3,7 kg đề nghị tuyên tịch thu tiêu huỷ.

Bị cáo Bùi Xuân C nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết việc làm của mình là sai trái mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa bị cáo Bùi Xuân C thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng. ời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra, gồm: Biên bản sự việc 20/12/2024; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ ngày 20/12/2024; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại lập ngày 20/12/2024 của Công an huyện Q đã xác định: 05 khối khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm giống nhau thu giữ của Bùi Xuân C, có tổng khối lượng là 6,3 kilôgam. Tiến hành lấy 02 khối có khối lượng 2,6 kilôgam, ký hiệu mẫu M1 gửi đi giám định. Kết luận giám định số 55/KL-KTHS(Đ2-CN), ngày 27/12/2024, của Phòng K - Công an tỉnh N xác định: Mẫu vật (ký hiệu M1) thu giữ của Bùi Xuân C gửi giám định là pháo, thuộc loại pháo nổ. Bị cáo Bùi Xuân C khai nhận mua 05 giàn pháo với số tiền 6.500.000 đồng về cất dấu để sử dụng trong tết nguyên đán. Do đó, có đủ căn cứ xác định hành vi trên của Bùi Xuân C đã cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo Bùi Xuân C xâm phạm nghiêm trọng chế độ độc quyền quản lý nhà nước trong sản xuất, kinh doanh, lưu hành hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu thông trên thị trường. Vụ án xảy ra còn gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội. Nên cần lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần về hình phạt cho bị cáo vì tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đầu thú. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng ...”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo trước khi phạm tội bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Vật chứng vụ án: Số pháo nổ thu giữ của Bùi Xuân C 05 hộp pháo nổ có khối lượng 6,3 kg, lấy 02 hộp có khối lượng 2,6 kg giám định, còn 03 hộp khối có khối lượng 3,7 kg pháo nổ là hàng hóa Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo Bùi Xuân C chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Xuân C 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Bùi Xuân C cho chính quyền UBND xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 03 hộp pháo nổ, khối lượng 3,7 Kg thu giữ của Bùi Xuân C.

Đặc điểm chi tiết pháo nổ được phản ánh tại biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/02/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an Quỳ Hợp và phòng C2, Công an tỉnh N.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Bị cáo Bùi Xuân C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người làm chứng. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 25/3/2025.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An,
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An,
  • - VKS ND tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Quỳ hợp,
  • - TH A DS huyện Quỳ hợp,
  • - Bị cáo;
  • - lưu

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Quán Vi Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HSST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (tàng trữ hàng cấm)

  • Số bản án: 22/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BXC phạm tội tàng trữ hàng cấm (pháo nổ)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger