|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24-3-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thêm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thảo;
Ông Huỳnh Sơn Tây.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Thế - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 477/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích S, sinh năm 1985; thường trú: Ấp Tr, xã T1, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Ngọc N, tổ 4, khu phố 4, phường N, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Xin vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1983; thường trú: Ấp Tr, xã T1, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Ngọc N, tổ 4, khu phố 4, phường N, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/10/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích S và ông Phạm Văn C tìm hiểu nhau và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C1, tỉnh Cà Mau và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 40 ngày 27/12/2005 theo Trích lục kết hôn số 374/TLKH-BS ngày 03/6/2024.
2
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và quan tâm đến nhau. Đến năm 2023, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên tranh cãi và không còn quan tâm chăm sóc cho nhau nữa. Bà S nhận thấy cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà S đã nhiều lần yêu cầu ly hôn nhưng ông C không đồng ý ly hôn và được Tòa án hòa giải đoàn tụ thành. Tuy nhiên, vợ chồng vẫn không thể đoàn tụ sống chung hạnh phúc được và mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Vợ chồng đã không còn sống chung với nhau hơn một năm và không ai còn quan tâm chăm sóc cho nhau nữa nên bà S yêu cầu được ly hôn với ông C.
Về con chung: Khi ly hôn bà S yêu cầu được quyền nuôi con chung tên Phạm Mai L, sinh ngày 12/10/2009 và Phạm Nguyễn Bình D, sinh năm 18/7/2014. Riêng con chung tên Phạm Mai Th, sinh ngày 02/9/2006 đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà S không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Phạm Văn C vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T phát biểu tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T.
Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Bích S và ông Phạm Văn C có đăng ký kết hôn và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Nguyên nhân bà S yêu cầu ly hôn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Mai L và Phạm Nguyễn Bình D cho bà S nuôi dưỡng. Riêng con chung tên Phạm Mai Th, sinh ngày 02/9/2006 đã thành niên nên không giải quyết; về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nợ chung: bà S không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Bích S có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Phạm Văn C nên đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Phạm Văn C có địa chỉ tại phường N, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
3
[2] Bà Nguyễn Thị Bích S đề nghị giải quyết vắng mặt. Ông Phạm Văn C đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ để giải quyết vụ án vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích S (Nguyễn Bích S) và ông Phạm Văn C là những người đủ điều kiện kết hôn; ông bà tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C1, tỉnh Cà Mau và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 40 ngày 27/12/2005 theo Trích lục kết hôn số 374/TLKH-BS ngày 03/6/2024 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà S yêu cầu ly hôn với ông C do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà S.
[4] Về con chung: Bà S yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phạm Mai L, sinh ngày 12/10/2009 và Phạm Nguyễn Bình D, sinh năm 18/7/2014 và nguyện vọng các cháu muốn sống chung với bà S. Riêng con chung tên Phạm Mai Th, sinh ngày 02/9/2006 đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết. Xét thấy, yêu cầu của bà S là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà S không yêu cầu.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp quy định pháp luật.
[8] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 146, 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích S về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với ông Phạm Văn C như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích S (Nguyễn Bích S) được ly hôn với ông Phạm Văn C.
4
- Về con chung: Giao con chung Phạm Mai L, sinh ngày 12/10/2009 và Phạm Nguyễn Bình D, sinh năm 18/7/2014 cho bà Nguyễn Thị Bích S trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Bích S không yêu cầu ông Phạm Văn C cấp dưỡng nuôi con.
Bà Nguyễn Thị Bích S và ông Phạm Văn C đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp lạm dụng quyền đi lại thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bích S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004704 ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Chi Cục Th hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Th hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 của Luật Th hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Th hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Hồng Thêm |
Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà S và ông C tranh chấp ly hôn
