|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2025/HS-ST
Ngày 24-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hồng Thơ.
- Ông Nguyễn Phú Hữu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Công – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2025/HSST-QĐ, ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Duy N (N), sinh năm 2002, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Giới tính: Nam; Con ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị Trúc G; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:
- - Ngày 03/5/2019, bị Công an xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 750.000 đồng theo Quyết định số 05/QĐ-XPVPHC, nộp phạt xong;
- - Ngày 04/9/2020, bị Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 262/2020/HSPT, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/3/2021;
Tạm giữ, tạm giam: Không. Đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Lê Thúy K, sinh năm 1956 (chết).
Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của bà K:
- Lâm Thị Kiều C, sinh năm 1977 (con ruột, vắng mặt).
- Lâm Thành Q, sinh năm 1983 (con ruột, vắng mặt).
- Lâm Thị Diễm T, sinh năm 1981 (con ruột, vắng mặt).
- Lâm Võ T1, sinh năm 1986 (con ruột, vắng mặt).
- Lâm Thiện T2, sinh năm 1989 (con ruột, vắng mặt).
- Lâm Thị Thùy L1, sinh năm 1993 (con ruột, vắng mặt).
Cùng cư trú: Số C, đường N, tổ A, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng: Nguyễn Văn P, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 05 phút, ngày 15/8/2024, Lê Duy N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 66F2-093.70 trên đường N hướng từ xã T về phường H. Khi đến đoạn đường thuộc Tổ A, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, phía trước hướng xe của N có bà Lê Thúy K, sinh năm 1956, có nhà gần nơi đây, đang đi bộ sang đường hướng từ phải qua trái theo hướng đi của xe mô tô. Lúc này, N đang điều khiển xe với vận tốc khoảng 60-70km/h, do thiếu chú ý quan sát nên khi N nhìn thấy thì bà K đi bộ đến gần giữa phần đường chỉ còn cách xe mô tô của N khoảng 3m, N không kịp giảm tốc độ hay thắng xe mà đụng vào bà Lê Thúy K làm bà K và xe mô tô văng xa một đoạn khoảng 16,4m thì dừng lại. Sau khi tai nạn xảy ra, người thân của bà K gần đó chạy đến hiện trường đưa bà K đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ điều trị, đến sáng ngày 16/8/2024 thì bà K tử vong, do chấn thương sọ não nặng.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 xe mô tô Yamaha Exciter, màu đỏ, biển số 66F2-093.70; Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô tên chủ sở hữu Nguyễn Văn P; 01 Giấy phép lái xe hạng A1, tên Lê Duy N do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 22/7/2022.
Kết quả dựng lại hiện trường: Đoạn đường N nơi xảy ra tai nạn là đường hai chiều, mặt đường rộng 650cm, nửa mặt đường rộng 330cm, điểm mốc trụ điện số 5, lề chuẩn là mép đường theo hướng đi xe mô tô từ xã H đến xã T. Tại hiện trường ghi nhận 05 dấu vết:
- + Vùng va chạm nằm trên mặt đường có đường kính 50x50cm, tâm vùng va chạm đo vào lề chuẩn 330cm, đến điểm mốc là 860cm, cách vết cày số 2 là 380cm, cách tâm vết số 4 là 1640cm;
- + 01 vết cày có chiều dài 75cm, đầu vết đo vào lề chuẩn 420cm; cuối vết cày đo vào lề chuẩn là 435cm;
- + 01 vết cày có chiều dài 590cm, đầu vết đo vào lề chuẩn 550cm; cuối vết cày đo vào lề chuẩn là 595cm;
- + 01 vết màu đỏ trên mặt đường kích thước 50x30cm, tâm vết đo vào lề chuẩn là 110cm, đo đến trục trước bánh xe là 510cm;
- + Xe mô tô biển số 66F2-093.70 ngã ở lề đường, nghiêng sang phải; đầu xe quay về hướng xã T, từ tâm trục bánh trước đo vào lề chuẩn 590cm; đuôi xe quay về hướng xã H, từ tâm trục bánh sau đo vào lề chuẩn 600cm.
Bản kết luận định giám định tử thi số 127 ngày 28/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận: nguyên nhân tử vong của bà Lê Thúy K là do chấn thương sọ não nặng/Lao màng não.
Kết quả khám nghiệm phương tiện để lại các dấu vết sau: Xe mô tô biển số 66F2-093.70 đầu tay phanh bên phải có vết ma sát mài mòn kích thước (1x1) cm; Đầu tay cầm bên phải có vết ma sát mài mòn kích thước (3x1) cm; Nhựa ốp ghi đông trên có vết ma sát mài mòn không liên tục kích thước (35x14) cm, góc trước bên phải bị bể vỡ phức tạp; Nhựa ốp cổ trước bên phải có vết ma sát mài mòn nứt vỡ kích thước (30x3) cm; Bửng bên phải phía trước, phía trên bị bung nở ma sát mài mòn đứt vỡ; đầu gác chân bên phải có vết ma sát mài mòn kích thước (3x4) cm, gác chân bị cong hướng từ trên xuống 7cm; Cảng bảo vệ yên bên phải mặc ngoài có vết ma sát mài mòn kích thước (4x1) cm; Mặt ngoài bảo vệ ống xả (pô xe) có vết ma sát mài mòn, thụng mốp kích thước (27x9) cm.
Phiếu đo nồng độ cồn lúc 19 giờ 57 phút ngày 15/8/2024 đối với Lê Duy N không phát hiện nồng độ cồn.
Kết luận giám định số 1163 ngày 26/8/2024 kết luận: không tìm thấy thành phần các chất ma tuý thường gặp trong mẫu nước tiểu của Lê Duy N.
Từ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện, khám nghiệm tử thi kết luận: Lê Duy N điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi phát hiện người là nguyên nhân chính xảy ra vụ tai nạn giao thông, đã vi phạm vào khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, là nguyên nhân chính xảy ra tai nạn giao thông.
Tại khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định: “Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
Ngoài ra, tại Khoản 6 Điều 5 Thông tư 31/2019 của Bộ G1 quy định: “Các trường hợp phải giảm tốc độ: Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau: 1. ... 6. Khi có người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường;...”
Trong vụ tai nạn giao thông này, bị hại Lê Thúy K đi bộ sang đường nơi không có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ nhưng không quan sát và đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm với xe mô tô của N, do đó bà K cũng có một phần lỗi dẫn đến vụ tai nạn giao thông đã vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật giao thông đường bộ.
Tại khoản 3 Điều 32 Luật giao thông đường bộ quy định đối với người đi bộ: “Trường hợp không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường, cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ thì người đi bộ phải quan sát các xe đang đi tới, chỉ qua đường khi bảo đảm an toàn và chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn khi qua đường”.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, Lê Duy N đã chủ động thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại Lê Thúy K với số tiền 80.000.000 đồng. Chị Lâm Thị Thùy L1 là người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận tiền xong và tự nguyện làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Duy N, ngoài không yêu cầu gì thêm.
Cơ quan điều tra trả lại cho Lê Duy N 01 Giấy phép lái xe hạng A1.
Đối với 01 xe mô tô Yamaha Exciter, màu đỏ, biển số 66F2-093.70 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô tên chủ sở hữu Nguyễn Văn P, anh P cho N mượn xe sử dụng làm phương tiện đi lại nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho anh P xong và anh P không yêu cầu N bồi thường tiền sửa chữa xe do bị hư hỏng, ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
Quá trình điều tra, bị cáo Lê Duy N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung đã nêu trên phù hợp với biên bản vụ việc tai nạn giao thông, kết luận giám định tử thi, phiếu đo nồng độ cồn, kết luận giám định mẫu nước tiểu, biên bản, sơ đồ khám nghiệm hiện trường, biên bản, sơ đồ dựng lại hiện trường, biên bản khám phương tiện, lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.
Tại cáo trạng số 12/CT-VKS-TPCL ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh truy tố bị cáo Lê Duy N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân nhân thành phố C giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Duy N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Duy N mức án từ 06 tháng đến 01 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Duy N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng và khai nhận bị cáo Lê Duy N có hành vi điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter, biển số 66F2-093.70 hướng từ xã T về phường H, với tốc độ khoảng từ 60 đến 70 km/h, khi đến đoạn đường N thuộc Tổ A, ấp H, xã H, thành phố C, do thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ, không làm chủ được tay lái nên khi thấy người đi bộ là bà Lê Thúy K đang đi bộ sang đường từ lề phải qua lề trái theo hướng đi xe mô tô của N và đã va chạm (đụng) vào người bà Lê Thúy K làm bà K văng xa một đoạn 16,4m, hậu quả làm bà K tử vong do chấn thương sọ não nặng. Tại phiênn tòa, bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản vụ việc tai nạn giao thông, kết luận giám định tử thi, phiếu đo nồng độ cồn, kết luận giám định mẫu nước tiểu, biên bản, sơ đồ khám nghiệm hiện trường, biên bản, sơ đồ dựng lại hiện trường, biên bản khám phương tiện, lời khai của người đại diện của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 19 giờ 05 phút ngày 15/8/2024 trên đoạn đường N thuộc Tổ A, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, Lê Duy N điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter, biển số 66F2-093.70 hướng từ xã T về phường H, do thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ, không làm chủ được tay lái đã vi phạm vào khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ và tại Khoản 6 Điều 5 Thông tư 31/2019 của Bộ G1 nên khi thấy người đi bộ là bà Lê Thúy K đang đi bộ sang đường từ lề phải qua lề trái theo hướng đi xe mô tô của N và đã va chạm (đụng) vào người bà Lê Thúy K, làm bà K văng xa một đoạn 16,4m, hậu quả bà K tử vong do chấn thương sọ não nặng.
Bị hại Lê Thúy K đi bộ sang đường nơi không có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ nhưng không quan sát và đảm bảo an toàn đã vi phạm theo khoản 3 Điều 32 của Luật giao thông đường bộ. Do đó bà Lê Thúy K có một phần lỗi.
Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Bị cáo là người đã thành niên, đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi vô ý, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng của người khác. Bị cáo đã được cấp giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, bị cáo Lê Duy N có hành vi điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter, biển số 66F2-093.70 hướng từ xã T về phường H, do thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ, không làm chủ được tay lái đã vi phạm vào khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ và tại Khoản 6 Điều 5 Thông tư 31/2019 của Bộ G1 nên đã gây tai nạn làm bà K văng xa một đoạn 16,4m, hậu quả bà K tử vong do chấn thương sọ não nặng.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.
Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Duy N đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây đau thương, mất mát cho gia đình bị hại. Ngoài ra, bị cáo Lê Duy N còn có nhân thân xấu, đã bị Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có thời gian học tập, cải tạo, trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời cũng có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại xong; được người đại diện hợp pháp bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt và bị hại có một phần lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- - Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 của bị cáo. Cơ quan điều tra trả lại cho bị cáo xong.
- - Đối với 01 (một) xe mô tô Yamaha Exciter, màu đỏ đen, biển số 66F2-093.70 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô tên chủ sở hữu Nguyễn Văn P, anh P cho N mượn xe làm phương tiện đi lại nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho anh P xong và anh P không yêu cầu gì thêm.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tại phiên tòa, như đã phân tích nêu trên là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Tuyên bố bị cáo Lê Duy N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Lê Duy N 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành hình phạt.
Buộc bị cáo Lê Duy N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Hiền |
Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 22/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
