Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày: 21-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thùy Dương

Các Hội thẩm nhân dân: bà Đỗ Thị Hân

ông Nguyễn Văn Giang

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Phạm Vương Đại Minh - Kiểm sát viên.

- Những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:

  • + Ông Vũ Hoàng A - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
  • + Ông Đặng Đức A1 - Kiểm tra viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Đức T, sinh ngày 09/12/1983, tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu B, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: khu T, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Tiến T1 và bà Trần Thị C; vợ, con: chưa có; tiền án: chưa có; tiền sự: ngày 06/08/2024, bị Công an thành phố M xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000 đồng về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; nhân thân: ngày 25/8/2004, đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm C1 (nay là Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh); ngày 31/7/2007, bị Tòa án nhân dân thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh (nay là thành phố M, tỉnh Quảng Ninh) xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; ngày 22/3/2011, đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh; ngày 14/9/2016, đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 16/12/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh (nay là Khu vực giam giữ M), có mặt.

Người chứng kiến: ông Nguyễn Đức A2, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phạm Đức T là đối tượng nghiện ma túy Heroine, T thường sử dụng ma túy bằng cách chích (tiêm) đưa ma túy vào trong cơ thể. Khoảng 13 giờ ngày 16/12/2024, T đi đến khu vực nghĩa trang phường N thì thấy 01 người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) đang sử dụng ma túy Heroine, T đến chỗ người này hỏi xin sử dụng ma túy cùng thì người này đồng ý và đưa cho T 01 gói ma túy để tự sử dụng rồi nói với T nếu thấy chất lượng tốt thì lần sau đến đây mua ma túy của người này, T đồng ý và nhận gói ma túy từ người đàn ông này rồi cất giấu ma túy vào túi áo khoác bên trái đang mặc. Sau đó, T đi bộ đến hiệu thuốc gần cổng Trung tâm Y tế thành phố M mua xi lanh để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, khi T đang đi bộ trên đường N thuộc khu H, phường T, thành phố M để về nhà thì bị Tổ công tác Công an thành phố M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói giấy được gấp gọn bên trong có chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy; 02 (hai) chiếc xi lanh chưa qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 1997/KL-KTHS ngày 21/12/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh Q kết luận: “Chất bột màu trắng dạng cục gửi giám định là ma túy; loại: Heroine; khối lượng 0,159 gam (không phẩy một năm chín gam)”.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Đức T đều khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Người chứng kiến ông Nguyễn Đức A2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai trong hồ sơ vụ án thể hiện: khoảng 15 giờ 20 phút ngày 16/12/2024, ông A2 đang trên đường về nhà thì được lực lượng Công an mời chứng kiến kiểm tra một nam thanh niên, nam thanh niên khai tên là Phạm Đức T, sinh năm 1983, nhà ở phường T, thành phố M. Quá trình kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện thu giữ trong túi áo khoác bên trái của T đang mặc có 01 gói giấy, bên trong có chất bột màu trắng nghi là ma túy và 02 chiếc xi lanh chưa qua sử dụng. T khai nhận với cơ quan Công an chất bột màu trắng trong gói giấy là ma túy Heroine, T được một người không quen biết cho và cất giấu nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Tại bản Cáo trạng số: 632/CT-VKSMC, ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Phạm Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quyết định truy tố và luận tội đối với bị cáo Phạm Đức T. Sau khi phân tích nội dung vụ án, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị với Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Đức T từ 18 (mười tám) đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/12/2024.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Đức T.

Về vật chứng và xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy: 0,11 gam (không phẩy một một gam) ma túy, loại Heroine được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật. Mặt trước phong bì ghi “mẫu vật hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số: 1997/KL-KTHS ngày 21/12/2024"; 02 (hai) chiếc xi lanh.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng truy tố bị cáo. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: tại phiên toà bị cáo Phạm Đức T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: vật chứng thu giữ, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và phù hợp với lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: khoảng 15 giờ 20 phút, ngày 16/12/2024, tại đường N thuộc khu H, phường T, thành phố M, Phạm Đức T có hành vi cất giấu trái phép 0,159 gam ma túy, loại ma túy Heroine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Phạm Đức T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi nhận thức rõ tác hại của ma túy, để thỏa mãn nhu cầu riêng của bản thân bị cáo đã cố ý cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì vậy cần xử lý nghiêm, mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: bị cáo Phạm Đức T có 01 tiền sự và nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Phạm Đức T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Đức T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích, Hội đồng xét xử xét thấy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng và xử lý vật chứng:

  • - Sau khi giám định, Phòng K Công an tỉnh Q hoàn lại Cơ quan CSĐT Công an thành phố M là 0,11 gam (không phẩy một một gam) ma túy, loại Heroine kèm theo Kết luận giám định số: 1997/KL-KTHS ngày 21/12/2024” theo đúng quy định của pháp luật là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 02 (hai) chiếc xi lanh, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.

[7] Về các vấn đề khác: trong vụ án có người đàn ông cho T ma túy, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

[8] Về án phí: cần buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Phạm Đức T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/12/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Tịch thu tiêu hủy: 0,11 gam (không phẩy một một gam) ma túy, loại Heroine được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật. Mặt trước phong bì ghi “mẫu vật hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số: 1997/KL-KTHS ngày 21/12/2024"; 02 (hai) chiếc xi lanh.

    (tình trạng số vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng số: 62/2025/THA, ngày 26 tháng 02 năm 2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh và Cơ quan CSĐT Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh).

  3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Đức T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh (PC 10);
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Móng Cái;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS thành phố Móng Cái;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh (PV 06);
  • - Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thùy Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số: 22/2025/HS-ST ngày 21/3/2025
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger