|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2025/HSST
Ngày : 21-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thùy.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Thanh Dung.
Bà Nguyễn Thị Kim Cúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Núi Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình VTS thụ lý số: 18/2025/TL-HSST ngày 26 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 03/3/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: VTS, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2002 tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Q; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông VL, sinh năm: 1975 và bà ĐTN, sinh năm: 1977, cùng trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Q. Bị cáo chưa có vợ con, là con út trong gia đình có 04 anh em.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Núi Thành từ ngày 05/12/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 05/12/2024, VTS muốn sử dụng ma tuý nên đi bộ từ nhà mình đến bến đò T sang bến đò Q thuộc thôn A, xã T, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam để tìm mua ma tuý. VTS đi nhờ xe của người đi đường đến ngã ba đường ĐT618 thuộc khối 4, thị trấn Núi Thành, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Tại đây, VTS gặp một người tên thường gọi là L(chưa xác định được lai lịch) hỏi mua 1.500.000 đồng ma tuý để về sử dụng, L đồng ý và đưa cho VTS 01 gói ni lông có chứa ma tuý, VTS đưa tiền mặt cho Lốp. Sau đó VTS cất gói ni lông có chứa ma tuý nói trên vào trong túi quần jean bên phải phía trước và tiếp tục xin đi nhờ xe về lại bến đò T. Đến 16 giờ 05 phút cùng ngày, khi VTS đang đứng đợi đò thì bị Tổ công tác của Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 túi ni lông không màu, kích thước (6,7x4,0)cm, trên miệng túi có viền màu đỏ, được tích hợp khoá bấm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của VTS phát hiện và thu giữ 01 ống bằng thuỷ tinh không xác định được hình dạng, kích thước là dụng cụ để VTS sử dụng ma tuý đá.
* Tại Kết luận giám định số 663/KL-KTHS ngày 10/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận: mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong gửi đi giám định là ma tuý loại Methamphetamine có khối lượng mẫu 1,663gam.
Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS-NT ngày 21/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành truy tố bị cáo VTS về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo VTS từ 24 đến 30 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì số 663/PC09, bên ngoài có chữ ký và tên của Lê Hoàng Vũ, Lê Cao Trí và Trương Quang Giang vào bì niêm phong và đóng dấu giáp lai 09 hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự, bên trong có 1,315 gam chất rắn màu trắng dạng tinh thể còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói; 01 ống thuỷ tinh không xác định được hình dạng.
Quá trình điều tra, tại phiên tòa và lời nói sau cùng, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Núi Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử xác định: Vào khoảng 16 giờ 05 phút ngày 05/12/2024, tại bến đò T thuộc thôn A, xã T, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang VTS có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, khối lượng 1,663gam, loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo VTS đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ của vụ án: Tàng trữ trái phép trái phép chất ma túy là hành vi xâm phạm đến quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước. Tội phạm ma túy hiện nay ngày càng tăng, tình hình phức tạp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình của bị cáo cũng như xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, có ảnh hưởng xấu đến người dùng, việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân, có ý thức xem thường pháp luật, bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, cần có mức án phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo lần đầu phạm tội, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo đang bị tạm giam, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 01 phong bì số 663/PC09, bên ngoài có chữ ký và tên của Lê Hoàng Vũ, Lê Cao Trí và Trương Quang Giang vào bì niêm phong và đóng dấu giáp lai 09 hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự, bên trong có 1,315 gam chất rắn màu trắng dạng tinh thể còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói; 01 ống thuỷ tinh không xác định được hình dạng.
[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về loại hình phạt, mức hình phạt áp dụng cho bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Các vấn đề khác có liên quan: Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo VTS chưa xác định được lai lịch nên tách ra điều tra xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo VTS phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo: VTS 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 05/12/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì số 663/PC09, bên ngoài có chữ ký và tên của Lê Hoàng Vũ, Lê Cao Trí và Trương Quang Giang vào bì niêm phong và đóng dấu giáp lai 09 hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự, bên trong có 1,315 gam chất rắn màu trắng dạng tinh thể còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói; 01 ống thuỷ tinh không xác định được hình dạng.
(Vật chứng được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành theo văn bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/02/2025).
- Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo VTS phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng);
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Nguyễn Thị Xuân Thùy |
Bản án số 22/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 22/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bị cáo phạm tội
