|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 22/2025/HS-ST Ngày 20-02-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Hữu Hường
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Bùi Đức Khoa
- Bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Minh A - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị N - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an thành phố H, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Lò Văn D, sinh ngày 19 tháng 4 năm 1997, tại Sơn La. Nơi thường trú: Bản Phương Y, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện T (N là Tổ dân phố H, phường T, thành phố T), thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn H và bà Lò Thị T; có vợ là chị Vì Thị S và có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 16-7-2022, Lò Văn D thi hành việc cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng tại Cơ sở điều trị nghiện ma tuý tỉnh Sơn La theo Quyết định số 138/QĐ-TA ngày 20-7-2022 của Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Lò Văn D chấp hành xong việc cai nghiện bắt buộc ngày 24-6-2024 (chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính); tạm giữ ngày 22-10-2024; tạm giam ngày 28-10-2024; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đặng Thị Minh L - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người chứng kiến:
- Anh Trần Văn T1; vắng mặt;
- Anh Vũ Đức D1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 22-10-2024, tại khu K, công trường xây dựng Vinhomes V thuộc Thôn H, xã T, huyện T (N là Tổ dân phố H, phường T, thành phố T), thành phố Hải Phòng, Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện T (Nay là Công an thành phố T) kết hợp với Công an xã T, huyện T (Nay là Công an phường T, thành phố T) bắt quả tang Lò Văn D có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý. Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái Lò Văn D đang mặc 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi chất ma túy). Tổ Công tác đã đưa Lò Văn D cùng vật chứng về trụ sở Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lò Văn D, Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Tại Kết luận giám định số 1239/KL-KTHS ngày 25-10-2024 của Phòng K, Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn D là ma tuý, có khối lượng 0,14 gam, loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, Lò Văn D khai nhận: Bản thân D nghiện ma tuý Heroine nên thường xuyên đi mua ma tuý về sử dụng. Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 22-10-2024, D đi bộ đến khu K, công trường xây dựng Vinhomes V mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng. Mua được ma tuý, D cất giấu vào túi quần phía trước bên trái và đi tìm chỗ sử dụng thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như trên.
Tại Cáo trạng số: 23/CT-VKS ngày 13-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lò Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên đã truy tố và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lò Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ lượng ma túy Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định trong 01 bì giấy được niêm phong số 1239MT/PC09 cùng vỏ bao gói của mẫu vật còn lại sau giám định. Bị cáo thuộc đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn ám phí nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo vắng mặt nhưng tại Bản luận cứ bào chữa, người bào chữa cho bị cáo bào chữa và tranh luận: Nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng, về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo sinh ra trong gia đình đông con, có nhiều khó khăn về kinh tế và phải nuôi 02 con nhỏ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo dưới mức án khởi điểm đề nghị của Viện kiểm sát; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nguyên, Kiểm sát viên thu thập; bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp. Do đó những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về nhận định các tình tiết của vụ án:
[3] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên, đủ cơ sở xác định: Ngày 22-10-2024, tại Ký túc xá B, công trường xây dựng Vinhomes V thuộc Thôn H, xã T, huyện T (N là Tổ dân phố H, phường T, thành phố T), thành phố Hải Phòng, Lò Văn D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,14 gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không những đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an xã hội, gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bởi vậy, cần phải được xử lý nghiêm.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6.1] Đối với việc người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự thấy rằng, yêu cầu của người bào chữa chưa phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[7] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly có thời hạn đối với bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà mới đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[7.1] Đối với việc người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo dưới mức án khởi điểm đề nghị của Viện kiểm sát. Căn cứ các mục [3], [7] thấy rằng, yêu cầu của người bào chữa chưa phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo làm nghề lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, vật chứng của vụ án đã thu giữ được xử lý như sau: Toàn bộ lượng ma túy Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định trong 01 bì giấy được niêm phong số 1239MT/PC09 là vật Nhà nước cấm lưu hành và bao gói của mẫu vật còn lại sau giám định là vật liên quan đến việc tàng trữ phép chất ma tuý, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[10] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo vào ngày 22-10-2024 tại khu vực Ký túc xá B, công trường xây dựng Vinhomes V thuộc Thôn H, xã T, huyện T (N là Tổ dân phố H, phường T, thành phố T), thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra không xác minh được tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
[11] Về án phí: Bị cáo thuộc đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn án phí nên căn cứ Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Tuyên bố bị cáo Lò Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;
Xử phạt bị cáo Lò Văn D 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22-10-2024.
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ lượng ma túy Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định trong 01 bì giấy được niêm phong số 1239MT/PC09 cùng vỏ bao gói của mẫu vật còn lại sau giám định theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15-01-2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuỷ Nguyên.
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Lò Văn D được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Hữu Hường |
Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 22/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lò văn dương phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
