Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-PT

Ngày: 14-02-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Thông;

Bà Nguyễn Thị Võ Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Diễm- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 300/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 12 năm 2024 đối với các các bị cáo Văn Văn T, Trần Thị Đ. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 61/2024/HS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Văn Văn T, sinh ngày 01/01/1968; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Ấp D, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; con ông Văn Văn B (chết) và bà Nguyễn Thị T1 (chết); Có vợ tên Phạm Thị Bé T2, sinh năm 1967; Con có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2008; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 06 trong gia đình. Tiền sự: Ngày 19/12/2023 bị Công an xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt xong ngày 08/5/2024. Tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên Tòa.
  2. Họ và tên: Trần Thị Đ, sinh năm 1972; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Ấp D, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; con ông Trần Văn L (chết) và bà Lê Thị N (chết); Có chồng tên Nguyễn Văn D, sinh năm 1971; Con có 01 người con sinh năm 1989; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.Tiền sự, ngày 19/12/2023 bị Công an xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt xong ngày 19/01/2024. Tiền án: Không.Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên Tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn có người liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19/12/2023, các bị cáo Văn Văn T và Trần Thị Đ bị Công an xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính mỗi người số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, bị cáo Đ chấp hành nộp phạt xong ngày 19/01/2024, bị cáo T chấp hành nộp phạt xong ngày 08/5/2024.

Khoảng hơn 12 giờ ngày 06/5/2024, bà Văn Thị N1 rủ Văn Văn T, Trần Thị Đ, Phạm Minh H đến nhà của N1 ở ấp D, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp chơi đánh bài thắng thua bằng tiền thì cả nhóm đồng ý và cùng nhau hùn tiền đưa cho N1 mua 01 bộ bài tây 52 lá về chơi. Cả bốn người ngồi tại nền đất dưới sàn nhà, theo thứ tự từ phải sang trái bắt đầu từ bị cáo T, Đ, N1 và H. Hình thức chơi là bài tiến lên 13 lá, có 04 tụ, người tới nhất sẽ thắng người tới chót là 4.000 đồng, người tới nhì sẽ thắng người tới thứ ba 2.000 đồng. Xòng bạc diễn ra liên tục đến 14 giờ 40 phút cùng ngày thì bị Công an xã M, huyện T phát hiện bắt quả tang, thu trên chiếu bạc 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra chứng minh được:

Bị cáo Văn Văn T: Lúc đến nhà bà N1 mang theo trong người 30.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Lúc bị bắt quả tang, đã thua 10.000 đồng nhưng chưa chung chi, bị thu giữ trên người 30.000 đồng.

Bị cáo Trần Thị Đ: Lúc đến nhà bà N1 mang theo trong người 10.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Lúc bị bắt quả tang, bị thu giữ trên người số tiền 10.000 đồng.

Bà Văn Thị N1: Mang theo trong người 30.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Lúc bị bắt quả tang, đã thắng 20.000 đồng, bị thu giữ trên người 50.000 đồng.

Ông Phạm Minh H: Lúc đến nhà bà N1 mang theo trong người 20.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Lúc bị bắt quả tang, đã thua hết 20.000 đồng.

Ngoài ra tại thời điểm bắt quả tang, còn thu giữ tại đống củi gần chiếu bạc số tiền 600.000 đồng. Đối với số tiền này, bị cáo T khai đây là tiền bà Phạm Thị Bé T2 (vợ T) đưa cho T để mua sữa cho cháu nội. Kết quả điều tra không có căn cứ để xác định số tiền này đã hoặc sẽ sử dụng vào việc đánh bạc.

Như vậy, kết quả điều tra chứng minh được tổng số tiền các các bị cáo T, Đ cùng H, N1 sử dụng vào mục đích đánh bạc là 90.000 đồng.

Về vật chứng thu giữ trong vụ án, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ và xử lý bằng hình thức trao trả cho chủ sở hữu.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 61/2024/HS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười đã quyết định:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự; Điều 38, điểm i, s, khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự.
    • - Tuyên bố: Bị cáo Văn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
    • - Xử phạt: Bị cáo Văn Văn T 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày các bị cáo chấp hành án.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự; Điều 38, điểm i, s, khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự.
    • - Tuyên bố bị cáo Trần Thị Đ phạm tội “Đánh bạc”.
    • - Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Đ 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày các bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 28 tháng 10 năm 2024, các bị cáo Văn Văn T, Trần Thị Đ có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Văn Văn T, Trần Thị Đ với tội danh, điều khoản của tội danh và mức hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Các bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo có cung cấp thêm xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, gia đình có người thân tham gia cách mạng. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự và mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Văn Văn T, Trần Thị Đ giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho hoàn cảnh của các bị cáo cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Văn Văn T, Trần Thị Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Các bị cáo Văn Văn T và Trần Thị Đ đã bị Công an xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa hết thời hạn để được xem như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính thì đã tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài tiến lên thắng thua bằng tiền cùng Văn Thị N1 và Phạm Minh H thì bị Công an xã M phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 90.000 đồng.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo Văn Văn T, Trần Thị Đ là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định, đã từng bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc. Các bị cáo nhận thức được việc đánh bạc ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện chứng tỏ lỗi của các bị cáo là lỗi cố ý và việc thực hiện tội phạm đã hoàn thành.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các các bị cáo Văn Văn T, Trần Thị Đ về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Các bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo có cung cấp thêm xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, gia đình có người thân có công với cách mạng. Tuy nhiên, các bị cáo phạm tội trong trường hợp trước đó đã bị xử lý hành chính và cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Văn Văn T, Trần Thị Đ, giữ nguyên phần quyết định của án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Do kháng cáo của các bị cáo Văn Văn T và Trần Thị Đ không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;

  1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Văn Văn T và Trần Thị Đ. Giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự; Điều 38, điểm i, s, khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Các bị cáo Văn Văn T và Trần Thị Đ phạm tội “Đánh bạc”.

    - Xử phạt: Bị cáo Văn Văn T 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    - Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Đ 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Các bị cáo Văn Văn T và Trần Thị Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh;
  • - TAND huyện Tháp Mười (02 bản);
  • - VKSND huyện Tháp Mười;
  • - Chi cục THADS huyện Tháp Mười;
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Tháp Mười;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Tháp Mười;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VT, HSVA, (Hào).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Minh Tùng

C

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-PT ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm (vụ án đánh bạc)

  • Số bản án: 22/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (vụ án Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger