Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN MỸ TÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ - ST.

Ngày: 19 - 3 - 2025.

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Sơn Thanh Bình.
  2. Ông Lê Hoàng Điệt.

- Thư ký phiên tòa:

Ông Đoàn Minh Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:

Bà Triệu Thị Mộng Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 01/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thủy L, sinh năm 1987, địa chỉ: Số E, đường G, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt).

Bị đơn: Ông Phan Hồng T, sinh năm 1981, HKTT: Ấp N, Thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện nay: Số B, đường C, ấp C, Thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 23/9/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 10/02/2025 bà Trần Thị Thủy L trình bày:

Vào năm 2016, bà và ông T kết hôn với nhau, kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thị trấn H vào ngày 21/7/2016. Sau khi kết hôn, bà và ông T sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm trong cuộc sống hôn nhân và đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay bà L yêu cầu được ly hôn với ông Phan Hồng T.

Trong quá trình chung sống, bà và ông T có một người con tên là Phan Khải M, sinh ngày 13/12/2015, hiện nay con chung đang sinh sống với bà L nên bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M và không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Trong quá trình giải quyết vụ án ông Phan Hồng T không có văn bản phúc đáp đối với yêu cầu của bà Trần Thị Thủy L.

- Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định, bị đơn không chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Thủy L.

+ Về con chung: Giao con chung tên Phan Khải M, sinh ngày 13/12/2015 cho bà L được trực tiếp nuôi dưỡng và ông L không cấp dưỡng nuôi cháu Phan Khải M, sinh ngày 13/12/2015 do bà L không yêu cầu.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Thủy L xác định trong thời gian chung sống bà Trần Thị Thủy L và ông Phan Hồng T không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Phan Hồng T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Phan Hồng T.

Bên cạnh đó, bà Trần Thị Thủy L vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt. Nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Trần Thị Thủy L.

[2] Về hôn nhân: Bà Trần Thị Thủy L và ông Phan Hồng T có đăng ký kết hôn vào ngày 21/7/2016 tại Ủy ban nhân dân Thị trấn H. Hôn nhân của ông bà tuân thủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên pháp luật công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Thủy L và ông Phan Hồng T là hợp pháp.

Bà Trần Thị Thủy L vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án xin được ly hôn với ông Phan Hồng T. Xét yêu cầu của bà Trần Thị Thủy L Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình chung sống do hai bên bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng về những sinh hoạt trong cuộc sống. Từ khi nguyên đơn chính thức yêu cầu xin ly hôn cho đến nay, Tòa án đã gửi thông báo về việc thụ lý cho ông Phan Hồng T và giữa bà Trần Thị Thủy L, ông Phan Hồng T từ khi sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay nhưng hai bên không tìm biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng và phù hợp với biên bản xác minh của Toà án. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Trần Thị Thùy L1 và ông Phan Hồng T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Thủy L được ly hôn với ông Phan Hồng T.

[3] Về con chung: Bà Trần Thị Thủy L yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Phan Khải M, sinh ngày 13/12/2015. Xét thấy, hiện nay cháu M đang sống với bà L và để ổn định cuộc sống, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu và cũng theo nguyện vọng của cháu M. Căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L là người được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Phan Khải M, sinh ngày 13/12/2015 là có căn cứ.

Ông Phan Hồng T có quyền thăm nom cháu Phan Khải M, sinh ngày 13/12/2015 không ai được cản trở theo Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà Trần Thị Thủy L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Phan Hồng T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phan Khải M, sinh ngày 13/12/2015 theo Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Trần Thị Thủy L không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống bà Trần Thị Thủy L cho rằng trong thời gian chung sống bà và ông Phan Hồng T không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[6] Về nợ chung: Trong quá trình chung sống bà Trần Thị Thủy L cho rằng bà và ông Phan Hồng T không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí: Bà Trần Thị Thủy L phải chịu án phí theo qui định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Như đã phân tích nêu trên xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú về đề nghị giải quyết về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: bà Trần Thị Thủy L và ông Phan Hồng T được ly hôn.
  2. Về con chung: Bà Trần Thị Thủy L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Phan Khải M, sinh ngày 13/12/2015.

    Ông Phan Hồng T có quyền thăm nom cháu Phan Khải M, sinh ngày 13/12/2015 không ai được cản trở. Bà Trần Thị Thủy L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Phan Hồng T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phan Khải M, sinh ngày 13/12/2015.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Trần Thị Thủy L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về tài sản chung: Bà Trần Thị Thủy L xác định trong thời gian chung sống bà Trần Thị Thủy L và ông Phan Hồng T không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  5. Về nợ chung: Bà Trần Thị Thủy L xác định trong thời gian chung sống bà Trần Thị Thủy L và ông Phan Hồng T không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Thủy L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0007573 ngày 30/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà Trần Thị Thủy L nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Ông Phan Hồng T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

  7. Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Mỹ Tú;
  • - UBND Thị trấn Huỳnh Hữu Nghĩa;
  • - Chi cục T.H.A DS huyện Mỹ Tú;
  • - Tòa án tỉnh Sóc Trăng (PKTNV và THA);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (HS, VP).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Thanh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HNGĐ - ST. ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 22/2025/HNGĐ - ST.
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger