|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2025/HSST Ngày: 18/3/2025 |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Hiểu
Bà Tô Thị Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Phan Văn C, sinh ngày 1983. Nơi cư trú: Thôn V, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn S và bà Cao Thị L; V là Nguyễn Thị H và có 04 con; tiền án: không; tiền sự: không. Nhân thân: Tháng 02/2002 tham gia nghĩa vụ quân sự đến tháng 01/2004 xuất ngũ về địa phương. Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 16/12/2024 cho đến nay, bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện T, Thái Bình.
- Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Anh Bùi Văn H1, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Á, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong quá trình sinh sống tại địa phương, thông qua các mối quan hệ, Phan Văn C biết có nhiều người có nhu cầu vay tiền chi tiêu nên C nảy sinh ý định cho vay tiền có tính lãi suất cao để thu lợi bất chính. Khi người vay có nhu cầu vay tiền sẽ liên lạc với C qua số điện thoại 0984.279.xxx để trao đổi về khoản vay, thống nhất về lãi suất cũng như hình thức cho vay, trả lãi. Tùy vào từng khoản vay có thể viết giấy vay tiền hoặc không phải viết giấy vay, toàn bộ tiền cho vay C đưa cho người vay và người vay trả lãi bằng tiền mặt, thống nhất tiền lãi hàng tháng người vay trả vào ngày vay của tháng tiếp theo (việc trả tiền lãi tháng đầu trừ luôn vào tiền gốc), quy định 1 tháng là 30 ngày (không tính theo lịch vạn niên). Bằng hình thức trên, từ ngày 20/06/2021 đến ngày 13/12/2024, Phan Văn C đã cho 03 người vay tiền với mức lãi suất 3.000đồng /1.000.000 đồng / 1 ngày, tương đương 108% /1 năm, gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%/ năm), cụ thể như sau:
1/ Cho anh Hoàng Văn T vay 2 lần, tổng số tiền là 15.000.000 đồng, anh T đã thanh toán cho C số tiền lãi là 46.350.000 đồng, số tiền lãi theo thỏa thuận là 45.795.000 đồng, trong đó số tiền lãi được thu theo quy định của pháp luật là 8.480.556 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 37.314.444 đồng. Cụ thể:
- Ngày 20/06/2021, C cho anh T vay số tiền 10.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận mức lãi suất vay là 3.000 đồng /1 triệu /1 ngày, tương đương 108% /1 năm, gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%/ năm), tương ứng 1 tháng số tiền lãi là 900.000 đồng. Cùng ngày, anh T đến nhà C tại thôn V, xã N, huyện T để làm thủ tục vay tiền. C yêu cầu anh T viết một giấy vay tiền để C giữ, sau đó đưa cho anh T số tiền gốc vay là 9.100.000 đồng bằng tiền mặt sau khi đã thu tiền lãi của tháng đầu tiên. Các tháng sau đó, anh T đều gặp C để thanh toán tiền lãi theo thỏa thuận bằng tiền mặt. Tổng số tiền lãi anh T đã trả cho C là 37.800.000 đồng, số tiền lãi theo thỏa thuận là 37.560.000 đồng, trong đó lãi theo quy định là 6.955.556 đồng, thu lời bất chính là 30.604.444 đồng, hiện anh T đã trả tiền gốc.
- Ngày 01/09/2021, với phương thức và lãi suất như trên, C cho anh T vay số tiền 5.000.000 đồng, tương ứng 01 tháng số tiền lãi là 450.000 đồng. Tại nhà C, C đưa cho anh T số tiền gốc vay là 4.550.000 đồng bằng tiền mặt sau khi đã thu tiền lãi của tháng đầu tiên. Các tháng sau đó, anh T đều gặp C để thanh toán tiền lãi theo thỏa thuận bằng tiền mặt. Tổng số tiền lãi anh T đã trả cho C là 8.550.000 đồng, số tiền lãi theo thỏa thuận là 8.235.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định là 1.525.000 đồng, số tiền thu lời bất chính là 6.710.000 đồng. Đến ngày 10/03/2023, anh T đã trả cho C số tiền gốc vay bằng tiền mặt.
2/ Ngày 03/08/2022, cho anh Phạm Văn T1 vay số tiền 10.000.000 đồng hai bên thỏa thuận mức lãi suất vay là 3.000 đồng/1 triệu /1 ngày, tương đương 108% / 1 năm, gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%/ năm), tương ứng 1 tháng số tiền lãi là 900.000 đồng. Cùng ngày, anh T1 đến nhà C để vay tiền, không phải viết giấy vay tiền, C đưa cho anh T1 số tiền gốc vay là 9.100.000 đồng bằng tiền mặt sau khi đã thu tiền lãi của tháng đầu tiên. Các tháng sau đó, anh T1 đều gặp C để thanh toán tiền lãi theo thỏa thuận bằng tiền mặt. Tổng số tiền lãi anh T1 đã trả cho C là 9.900.000 đồng. Số tiền lãi theo thỏa thuận là 9.900.000 đồng, trong đó tiền lãi theo quy định là 1.833.333 đồng, tiền thu lời bất chính là 8.066.667 đồng. Đến ngày 03/07/2023, anh T1 đã trả tiền gốc cho C.
3/ Cho anh Bùi Văn H1 vay 03 lần, tổng số tiền là 25.000.000 đồng, anh H1 đã thanh toán cho C tổng số tiền lãi là 13.050.000 đồng, số tiền lãi theo thỏa thuận là 13.230.000 đồng, trong đó tiền lãi theo quy định là 2.450.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 10.780.000 đồng, hiện anh H1 đã trả hết tiền gốc cho C. Cụ thể :
- Ngày 03/09/2021, cho anh H1 vay số tiền 10.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận mức lãi suất vay là 3.000 đồng /1 triệu/1 ngày, tương đương 108% / 1 năm, gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%/ năm), tương ứng 1 tháng số tiền lãi là 900.000 đồng. Cùng ngày, anh H1 đến nhà C để làm thủ tục vay tiền. C yêu cầu anh H1 viết một giấy vay tiền để C giữ, sau đó đưa cho anh H1 số tiền gốc vay là 10.000.000 đồng bằng tiền mặt. Các tháng sau đó, anh H1 đều gặp C để thanh toán tiền lãi theo thỏa thuận bằng tiền mặt. Tổng số tiền lãi anh H1 đã trả cho C là 2.700.000 đồng, số tiền lãi theo thỏa thuận là 2.700.000 đồng; trong đó lãi theo quy định là 500.000 đồng, thu lời bất chính là 2.200.000 đồng. Ngày 03/12/2021, anh H1 đã trả cho C số tiền gốc vay bằng tiền mặt.
- Ngày 11/04/2022, với phương thức, lãi suất như trên, C cho anh H1 vay số tiền 5.000.000 đồng, tương ứng 1 tháng anh H1 phải trả cho C số tiền lãi là 450.000 đồng. Cùng ngày, anh H1 đến nhà C để vay tiền, không phải viết giấy vay tiền, C đưa cho anh H1 số tiền gốc vay là 5.000.000 đồng tiền mặt. Các tháng sau đó, anh H1 đều gặp C để thanh toán tiền lãi theo thỏa thuận bằng tiền mặt. Tổng số tiền lãi anh H1 đã trả cho C là 3.150.000 đồng, tiền lãi theo thỏa thuận là 3.150.000 đồng, trong đó lãi theo quy định là 583.333 đồng, thu lời bất chính là 2.566.667 đồng. Ngày 11/11/2022, anh H1 đã trả cho C số tiền gốc vay bằng tiền mặt.
- Ngày 10/11/2022, với phương thức, lãi suất như trên, C1 anh H1 vay số tiền 10.000.000 đồng, tương ứng 1 tháng anh H1 phải trả cho C số tiền lãi là 900.000 đồng. Cùng ngày, anh H1 đến nhà C để vay tiền, không phải viết giấy vay tiền, C đưa cho anh H1 số tiền gốc vay là 10.000.000 đồng. các tháng sau đó, anh H1 đều gặp C để thanh toán tiền lãi theo thỏa thuận bằng tiền mặt. Tổng số tiền lãi anh H1 đã trả cho C là 7.200.000 đồng, số tiền lãi theo thỏa thuận là 7.380.000 đồng; trong đó lãi theo quy định là 1.366.667 đồng, thu lời bất chính là 6.013.333 đồng. Ngày 17/07/2023, anh H1 đã trả cho C toàn bộ số tiền gốc vay bằng tiền mặt.
Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKSTH ngày 14/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phan Văn C về tội: “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản cáo trạng số 22 và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 201, điểm s, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 35 Bộ luật Hình sự. Phạt tiền bị cáo từ 60.000.000 đồng ( Sáu mươi triệu đồng) đến 80.000.000 đồng (T2 mươi triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy note màu đen, máy có lắp một thẻ sim V1,trên thẻ sim có dãy số 8984048008811675758 thu của Phan Văn C;
- Truy thu sung quỹ nhà nước các khoản tiền của Bị cáo Phan Văn C gồm: Tổng số tiền bị cáo đã cho vay là 50.000.000 đồng và số tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự là 12.763.889 đồng. Bị cáo đã nộp được số tiền 15.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tiền Hải theo biên lai thu số 0001838 ngày 17/3/2025. Bị cáo còn phải nộp tiếp số tiền 47.763.889 đồng để sung quỹ nhà nước.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Văn T,anh Phạm Văn T1 và anh Bùi Văn H1 không yêu cầu nhận lại số tiền lãi vượt quá quy định và không yêu cầu nhận lại số tiền thừa đã trả cho bị cáo nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với Kiểm sát viên về bản luận tội.
Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: “ Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không khiếu nại hay có ý kiến gì nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.
[2]. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi cho vay với mức lãi xuất là 3.000đồng /01 triệu/01 ngày đối với 03 người vay gồm: Anh Hoàng Văn T, anh Phạm Văn T3 và anh Bùi Văn H1 với tổng số tiền cho vay là 50.000.000 đồng, số tiền lãi bị cáo thỏa thuận với người vay là 68.925.000 đồng . Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như:
- Đơn tố cáo về hành cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự;
- Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu, biên bản kiểm tra điện thoại do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 14/12/2024 tại Công an huyện T;
- Biên bản ghi lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Văn T, anh Phạm Văn T1 và anh Bùi Văn H1.
Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 20/06/2021 đến ngày 13/12/2024, với mục đích thu lời bất chính, Phan Văn C đã cho 03 người vay tiền, gồm các anh: Anh Hoàng Văn T, anh Phạm Văn T1 và anh Bùi Văn H1 vay tổng số tiền là 50.000.000 đồng với mức lãi suất là 3.000 đồng/01triệu đồng/ 01 ngày, tương đương 108%/năm (gấp từ 5,4 lần so với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự). Tổng số tiền lãi C đã thỏa thuận với những người vay phải trả là 68.925.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định của pháp luật là 12.763.889 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 56.161.111 đồng.
Tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật sân sự quy định : “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác...Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”.
Hành vi của bị cáo Phan Văn C đã phạm tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Điều 201 Bộ luật hình sự quy định:
1. “ Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực tài chính và xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ.
[4]. Đánh giá về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Về nhân thân, bị cáo Phan Văn C có nhân thân tốt, trước khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, phục vụ trong Q. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm s, điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt:
[5.1]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt tiền đối với bị cáo Phan Văn C là có căn cứ.
[5.2]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 30.000.000đồng đến 100.000.000đồng. Tuy nhiên do bị cáo C đã bị đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo C như đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 33 Bộ luật Hình sự.
[6]. Về vật chứng của vụ án và các biện pháp tư pháp: Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T đã lập biên bản quản lý 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy note màu đen, máy có lắp một thẻ sim V1,trên thẻ sim có dãy số 8984048008811675758 thu của Phan Văn C. Xét thấy, chiếc điện thoại này bị cáo dùng để liên lạc với những người vay trong việc cho vay, xác định đây là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với số tiền gốc bị cáo đã cho 03 người vay là 50.000.000 đồng là tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của người vay là 12.763.889 đồng đồng, tuy không bị tính để truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng đây là khoản tiền phát sinh từ hành vi phạm tội của bị cáo. Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật Hình sự thì hai khoản tiền trên được tịch thu sung quỹ nhà nước. Tổng số tiền bị cáo phải nộp lại để sung quỹ nhà nước là 62.763.889 đồng (Sáu mươi hai triệu bẩy trăm sáu ba nghìn tám trăm tám mươi chín đồng). Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo Phan Văn C đã nộp số tiền 15.000.000đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tiền Hải theo biên lai thu số 0001838 ngày 17/3/2025. Bị cáo C còn phải nộp tiếp số tiền để sung quỹ nhà nước là 47.763.889 đồng (Bốn mươi bẩy triệu bẩy trăm sáu mươi ba nghìn tám trăm tám mươi chín đồng).
Đối với số tiền thu lợi bất chính bị cáo đã thu của anh Hoàng Văn T, anh Phạm Văn T1 và anh Bùi Văn H1. Trong quá trình điều tra, truy tố những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không yêu bị cáo phải trả lại số tiền lãi vượt quá và số tiền đã trả thừa cho bị cáo nên không đặt ra giải quyết.
[7]. Về án phí: Bị cáo Phan Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 201, điểm s, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 35, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn C phạm tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Văn C 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.
3/ Về vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- Buộc bị cáo Phan Văn C phải nộp lại số tiền 62.763.889 đồng (Sáu mươi hai triệu bẩy trăm sáu ba nghìn tám trăm tám mươi chín đồng) để sung quỹ nhà nước. Bị cáo Phan Văn C đã nộp số tiền 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tiền Hải theo biên lai thu số 0001838 ngày 17/3/2025. Bị cáo C còn phải nộp tiếp số tiền để sung quỹ nhà nước là 47.763.889 đồng (Bốn mươi bẩy triệu bẩy trăm sáu mươi ba nghìn tám trăm tám mươi chín đồng).
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy note 8 màu đen, máy có lắp một thẻ sim V1,trên thẻ sim có dãy số 8984048008811675758 thu của Phan Văn C.
(Vật chứng của vụ án đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/02/2025 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải).
4/ Về án phí: Bị cáo Phan Văn C phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/3/2025).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (ĐÃ KÝ) Chu Thị Linh |
Bản án số 22/2025/HSST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 22/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn C phạm tội
