Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày 11 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Phương Quyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Phước Công - Phó trưởng phòng giáo dục và đào tạo huyện Chợ Mới.

Bà Phạm Xuân Đào - Phó chủ tịch liên đoàn lao động huyện Chợ Mới.

- Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Trọng Khiêm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2025/HSST ngày 25 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/HSST ngày 17 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Hữu T, sinh ngày 18/4/2003 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Cha: Nguyễn Hữu H, sinh năm 1974; Mẹ: Phan Thị Mỹ H1, sinh năm 1978; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ 22/7/2024 đến nay, tại Nhà tạm giữ - Công an huyện C (có mặt).
  2. Mai Hữu T1, sinh ngày 29/11/2005 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Cha: Mai Văn T2, sinh năm 1971; Mẹ: Mai Thị M, sinh năm 1972; bị cáo có 02 anh (chị), em, bị cáo thứ hai; bị can chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/7/2024 đến nay, tại Nhà tạm giữ - Công an huyện C (có mặt).

Bị hại: Nguyễn Văn Bé T3, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn P, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt)

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H2, bà Đinh Thị Ú (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 14/9/2023, Huỳnh Thị Huỳnh A (H, sinh ngày 04/9/2007), Nguyễn Văn Bé T3 (P), Nguyễn Hữu T và Lê Văn P (Chuột) cùng sử dụng ma túy tại nhà của P, ở ấp H, xã K, huyện C. Sau khi sử dụng ma túy xong thì Bé T3 ra về. P, T, Huỳnh A muốn sử dụng ma túy tiếp nên P đưa điện thoại di động của P để cầm, lấy tiền mua ma túy sử dụng. Để thực hiện, T đưa điện thoại di động của T cho Huỳnh A, đăng nhập vào tài khoản Facebook tên “Huỳnh H3” nhắn tin cho Bé T3 hỏi mua 300.000 đồng ma túy và nói sẽ đưa điện thoại di động của P cho Bé T3 giữ, ngày mai trả tiền và lấy lại điện thoại, thì Bé T3 đồng ý và hẹn gặp ở D Nguyễn Hữu C tại thị trấn C. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở P đến gặp Bé T3, P đưa điện thoại di động Xiaomi Redmi 9A cho Bé T3 giữ làm tin và nhận ma túy về để cùng T, Huỳnh A sử dụng tại nhà P, khoảng 04 giờ thì T, Huỳnh A đi về. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, T gọi điện thoại cho Mai Hữu T1, ngụ ấp H, xã K đến uống cà phê, tại quán B1 (gần phà T), trong lúc uống cà phê T kể việc đã cầm điện thoại của P cho B T3 để lấy ma túy sử dụng, T1 nghe nhưng không nói gì, sau đó T1 chở T đến nhà P, rồi T1 ra về. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, T, Huỳnh A, P nhậu và chơi game, T gọi điện thoại kêu T1 đến nhà P để nhậu thì T1 điều khiển xe mô tô biển số 67L2-816.11 đến. Tại đây, P nói “điện thoại làm sao lấy bây giờ, ông già tao biết chửi tao”, thì T lấy cây dao tự chế từ trong áo khoác đang mặc (đã cất giấu trước đó) để lên bàn và nhìn T1 nói “để tôi với thằng T1 đi lấy điện thoại về, giờ mình không tiền giật điện thoại nó đi, tao đem dao theo, nó chống cự thì chém nó”, thì T1 đồng ý đi cùng T, riêng P nói “thôi khỏi đi lấy điện thoại đi”, khi này Huỳnh A1 cũng có mặt, thấy T lấy cây dao để lên bàn và nghe bàn bạc giữa T và T1. T kêu Huỳnh A dùng tài khoản Facebook nhắn tin hỏi Bé T3 đang ở đâu để trả tiền và lấy lại điện thoại di động, thì Bé T3 hẹn gặp trước cổng Dinh Nguyễn Hữu C, ở khóm T, thị trấn C. T liền lấy cây dao cất giấu vào áo khoác đang mặc và điều khiển xe mô tô của T1 chở T1 đi gặp Bé T3, trên đường đi T nói với T1 “khi nào cầm được điện thoại thì báo cho anh, anh chạy xe đi”. Đến nơi, T nói với Bé T3 “cho mượn điện thoại kiểm tra có hư gì không mới đưa tiền” thì Bé T3 nói “điện thoại có hư gì đâu”, T kêu đưa điện thoại cho T1 kiểm tra, khi T1 cầm điện thoại và nói “điện thoại không hư gì, đúng rồi anh” thì Trọng đề máy xe bỏ chạy, nhưng Bé T3 nắm áo của T1 ngã xuống xe, Bé T3 dùng tay phải đánh trúng vùng mặt của T1 01 cái, thì T dựng xe, lấy cây dao tự chế đã giấu sẵn trong áo khoác chạy đến chém theo hướng từ trên xuống, Bé T3 đưa tay trái lên đỡ nên trúng vào tay 01 cái, T điều khiển xe mô tô chở T1 về nhà P, T nói “lỡ chém thằng P1 rồi không biết có sao không”, Huỳnh A hỏi “chém nó luôn hả anh T” thì T đưa dao và nói “chém nó còn dính máu không nè”, sau đó T đưa điện thoại cho P rồi T, T1, Huỳnh A ra về. Đến ngày 19/7/2024 và ngày 22/7/2024 T1 và T lần lượt đến Công an huyện C, khai nhận hành vi phạm tội. Bé T3 không yêu cầu xử lý hình sự và bồi thường dân sự.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 67L2-816.11 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67L2-816.11 do Mai Hữu T1 đứng tên; 01 nón bảo hiểm POC, màu trắng – đen; 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax, đều đã qua sử dụng.

Căn cứ Kết luận số 797/23/KLTTCT-TTPY ngày 22/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A, giám định tổn thương cơ thể trên người sống đối với Nguyễn Văn Bé T3: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 13%. Cơ chế hình thành thương tích do vật sắc gây nên.

Căn cứ Kết luận định giá số 44 ngày 18/12/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện C: 01 điện thoại di động Xiaomi Redmi 9A, đã qua sử dụng, trị giá 800.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Hữu T, Mai Hữu T1; bị hại Nguyễn Văn Bé T3; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Văn P; người làm chứng Nguyễn Thị H2 khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu.

Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 04/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang truy tố các bị cáo Nguyễn Hữu T, Mai Hữu T1 về tội “Cướp tài sản” theo điểm c, d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hữu T, Mai Hữu T1 khai nhận phù hợp nội dung cáo trạng nêu trên; các bị cáo thống nhất với kết luận giám định thương tích của bị hại; kết luận định giá tài sản, đồng thời xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c, d khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T từ 09 năm đến 10 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Áp dụng khoản c, d khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Mai Hữu T1 từ 06 năm đến 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu phát mãi sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô biển số 67L2-816.11, nhãn hiệu Honda, loại Future Fi màu trắng đen, số máy JC90E0421863, số khung RLHJC7656PY111963 đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 67001465, biển số đăng ký 67L2-816.11 tên Mai Hữu T1; tịch thu tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm POC, mà trắng đen đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, số IMEI 354860898969182 đã qua sử dụng.

Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Mai Hữu T1 không có ý kiến bào chữa; lời nói sau cùng của các bị cáo là xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại Nguyễn Văn Bé T3; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Văn P và người làm chứng Nguyễn Thị H2, Đinh Thị Ú vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về nội dung:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người bị hại, người liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án.

Do đó đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 15 giờ, ngày 14/9/2023, trong lúc nhậu và chơi game thì P nói cầm điện thoại cho Bé T3 bị gia đình la trong khi P không kêu ai đi lấy thì bị cáo T đã kêu Huỳnh A liên hệ với Bé T3 để trả tiền lấy điện thoại; sau khi được Bé T3 hẹn gặp tại cổng dinh Nguyễn Hữu C thuộc khóm T5, thị trấn C, huyện C tỉnh An Giang thì T mang theo con dao tự chế điều khiển xe mô tô biển số 67L2-816.11của T1 đến gặp Bé T3. Tại đây, sau khi Bé T3 đưa điện thoại cho T1 thì T1 lên xe cho T bỏ đi thì bị Bé T3 năm T1 lại và đánh T1 thì T đừng xe lại và dùng con dao tự chế chém vào tay Bé T3 gây thương tích với tỷ lệ thương tích là 13% để chiếm đoạt điện thoại di động Xiaomi Redmi 9A mà P đã cầm cho Bé T3 rồi tẩu thoát. Hành vi này của các bị cáo đã cấu thành tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; do bị các bị cáo dùng dao tự chế được xem là “hung khí nguy hiểm” và “gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ thương tích là 13%” nên đã phạm vào tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 với khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù (tội rất nghiêm trọng).

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thì thấy:

Quyền sở hữu về tài sản của công dân luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến tài sản của cá nhân, tổ chức sẽ được xử lý kịp thời, nghiêm minh. Bị cáo T là người trưởng thành; bị cáo T1 chuy chưa thành niên nhưng thời điểm phạm tội thì các bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Lẽ ra, khi P cầm điện thoại cho bị hại và bị gia đình la; P cũng không yêu cầu các bị cáo lấy lại điện thoại thì các bị cáo phải có ứng xử cho phù hợp; tuy nhiên với bản tính tích thể hiện và xem thường pháp luật mà các bị cáo bất chấp tất cả cố ý phạm tội bằng thủ đoạn dùng dao gây thương tích cho bị hại để chiếm đoạt tài sản, các bị cáo thực hiện hành phạm tội tại nơi đông ngươi điều chứng tỏ các bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật.

Về vai trò: Trong vụ án này bị cáo T là người chuẩn bị hung khí và cũng là người rủ rê bị cáo T1 phạm tội nên mức hình phạt của T phải cao hơn T1; đối với T1 khi được T rủ rê thì đồng ý ngày và tích cực cũng với T1 thực hiện hành vi phạm tội điều này thể hiện đồng phạm đến cùng của bị cáo T1.

Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T1 không có tình tiết tang nặng; đối với bị cáo T4 có hành vi rủ rê bị cáo T1 thực hiện hành vi phạm tội trong khi T1 chưa đủ 18 tuổi nên được xem là xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo T, tài thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn, hối cải, sau khi phạm tội các bị cáo đã đầu thú; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo trong quá trình lượng hình.

Xét thấy: Hậu quả mà tội phạm mà các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, hiện các tội phạm xâm phạm về tài sản, tính mạng, sức khỏe của người khác trên địa bàn đang có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân gây mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Do đó, việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Đối với Huỳnh Thị Huỳnh A đã bị Cơ quan điều tra khởi tố truy nã, bắt được xử lý sau. Riêng Lê Văn P thì các bị cáo T, T1 khai Phương không tham gia bàn bạc, không giúp sức cho các bị can thực hiện tội phạm, hiện P đã bỏ địa phương đi không rõ địa chỉ, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ là có căn cứ. Đối với hành vi mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy của T, T1, Huỳnh A, P, Bé T3 do không thu giữ được vật chứng để giám định và không thu được dụng cụ sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị hại Bé T3 không yêu cầu các bị cáo bồi thường về dân sự nên không xét đến.

[6] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C có thu giữ vật chứng và chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới sẽ được xử lý như sau: 01 xe mô tô biển số 67L2-816.11, nhãn hiệu Honda, loại Future Fi màu trắng đen, số máy JC90E0421863, số khung RLHJC7656PY111963 đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 67001465, biển số đăng ký 67L2-816.11 tên Mai Hữu T1 là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mãi sung ngân sách nhà nước; đối với 01 nón bảo hiểm POC, màu trắng đen đã qua sử dụng là của bị cáo T1, bị cáo không có yêu cầu nhận lại, thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; trả lại cho bị cáo T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, số IMEI 354860898969182 đã qua sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội.

[7] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu T, Mai Hữu T1 phạm tội “Cướp tài sản”.

Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 09 (chín) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22/7/2024).

Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Mai Hữu T1 06 (sáu) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 19/7/2024).

Căn cứ các Điều Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu phát mãi sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 67L2-816.11, nhãn hiệu Honda, loại Future Fi màu trắng đen, số máy JC90E0421863, số khung RLHJC7656PY111963 đã qua sử dụng cùng với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 67001465, biển số đăng ký 67L2-816.11 tên Mai Hữu T1. Tịch thu tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm POC, màu trắng đen đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo Mai Hữu T1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, số IMEI 354860898969182 đã qua sử dụng. (Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/3/2025).

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Mai Hữu T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Chợ Mới;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng .

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Phương Quyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về cướp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Hữu T, Mai Huu T bị truy tố về tội Cướp tài sản" theo quy định tại điểm c,d khoản 2 Điều 168 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger