|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2025/HSST
Ngày 11/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hanh và bà Trần Thị Kim Duyên
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Khổng Phương Thuỳ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Huy Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/HSST ngày 17/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/HSST- QĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
Đinh Văn N
sinh ngày 10/11/1992; nơi sinh: Tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn 1, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam: Đảng, đoàn thể: Không; trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Đinh Văn Đ và bà Hà Thị S: Vợ: Nguyễn Thị H; con: 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tại ngoại tại địa phương (có mặt).
- Nhân thân: Tại Bản án số 27/2007/HS-ST ngày 29/11/2007 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử Đinh Văn N, ngày phạm tội 13/3/2007, về tội “Phá huỷ công trình quan trọng về an ninh quốc gia” theo khoản 1 Điều 231 Bộ luật Hình sự, xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng. Ngày 14/8/2008, chấp hành xong án phí. (Đã được xóa án tích).
- Bị hại: Cháu Lưu Quang T, sinh ngày 28/10/2008 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lưu Văn H1, sinh năm 1983 và bà Đào Thị T1, sinh năm 1982 (bố, mẹ cháu T). Người đại diện theo uỷ quyền của bà T1 là ông Lương Văn H2 (chồng bà T1), (vắng mặt).
Đều địa chỉ: Thôn S, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Bị hại: Cháu Trần Huy T2, sinh ngày 30/7/2009;
Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trần Văn L, sinh năm 1982 và bà Trương Thị G, sinh năm 1984 (bố, mẹ cháu T2).
Đều địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. (đều có mặt).
- Bị hại: Cháu Nguyễn Tùng D, sinh ngày 08/8/2009.
Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1979 và bà Trần Thị T3, sinh năm 1983 (bố, mẹ cháu D).
Đều địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, ( đều vắng mặt).
Bị đơn dân sự: Anh Đỗ Văn C, sinh năm 1988;
Địa chỉ: tổ dân phố L, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đào Thị T1, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Thôn S, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt); Người đại diện theo uỷ quyền của bà T1 là ông Lương Văn H2 (chồng bà T1), (vắng mặt).
Người làm chứng: Anh Nguyễn Trung N1, sinh năm 1999;
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Đinh Văn N bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Đinh Văn N, sinh năm 1992, trú tại thôn I, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc có giấy phép lái xe ô tô hạng C, do Sở Giao thông Vận tải tỉnh V cấp ngày 16/02/2024, thời hạn đến ngày 16/02/2029. Đinh Văn N là lái xe thuê cho anh Đỗ Văn C, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố L, thị trấn H, huyện T. Khoảng 13h30 ngày 03/7/2024, Đinh Văn N điều khiển xe ô tô nhãn hiệu MIGHTY DONGVANG, loại xe tải có mui, màu xanh, biển kiểm soát: 88C- 265.16 chở anh Nguyễn Trung N1, sinh năm 1999 ở thôn T, xã H, huyện T ngồi ở ghế phụ đi từ tổ dân phố L, thị trấn H, huyện T đến thành phố Hà Nội để giao hàng. Khoảng 19h00 cùng ngày, Đinh Văn N điều khiển xe ô tô chở anh N1 đi từ Hà Nội về Vĩnh Phúc. Khoảng 20h20 cùng ngày, Đinh Văn N điều khiển xe ô tô đi trên đường Q theo hướng thành phố V đi huyện T, đoạn đường này có hai chiều đường và có dải phân cách cứng ở giữa. Khi đi đến ngã tư giao nhau giữa đường Q với đường tỉnh lộ 310C thuộc địa phận tổ dân phố G, thị trấn K, huyện T, Đinh Văn N bật xi nhan rẽ trái và điều khiển xe ô tô với tốc độ khoảng 20km/h chuyển hướng đi vào đường tỉnh lộ 310C theo hướng đi xã Đ, huyện T. Tại thời điểm này, ở phía trước cùng chiều với xe ô tô của N có 01 xe ô tô tải khác (không rõ đặc điểm và biển kiểm soát) cũng di chuyển cùng hướng và rẽ trái. Khi đi vào vị trí có lối mở, Đinh Văn N quan sát bên phải chiều đường Q hướng T đi V thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu sơn xanh, không gắn biển kiểm soát do cháu Lưu Quang T, sinh năm 2008, trú tại thôn S, xã H, huyện T điều khiển chở cháu Nguyễn Tùng D, sinh năm 2009, trú tại thôn N, xã H, huyện T và cháu Trần Huy T2, sinh năm 2009, trú tại thôn L xã H, huyện T đang đi với tốc độ nhanh theo hướng Tam Đ1 đi V và cách xe ô tô của N khoảng 40m (sau khi xảy ra tai nạn thì N biết tên, địa chỉ và loại phương tiện như nêu trên). Đinh Văn N chủ quan nghĩ rằng xe máy do cháuTùng điều khiển đang ở xa ngã tư, đủ an toàn để N điều khiển xe ô tô rẽ trái vượt
qua ngã tư nên N tiếp tục điều khiển xe ô tô chuyển hướng qua ngã tư để đi vào đường T hướng đi xã Đ. Đinh Văn N không quan sát ở bên phải đường theo hướng đi mà chỉ quan sát phía trước xe vì tầm nhìn phía trước bị hạn chế do bị che lấp bởi một phần đuôi xe ô tô tải đi trước nên khi đến giữa ngã tư giao nhau thì phần đầu xe máy do cháu T điều khiển đã đâm vào phần thùng xe bên phải phía sau xe ô tô do N điều khiển làm cháu T, cháu D và cháuTuyên cùng xe mô tô bị ngã, đổ văng ra đường. Hậu quả: Cháu T, cháu D và cháu T2 đều bị thương tích và được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh V cấp cứu, điều trị đến khoảng 23h00 cùng ngày cháu T tử vong.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường của vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra tại khu vực ngã tư giao cắt giữa đường Q với đường tỉnh lộ 310C thuộc địa phận tổ dân phố G, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Đường Quốc lộ 2B là đường đôi có dải phân cách cố định phân chia hai chiều đường riêng biệt: Một chiều đường hướng đi thành phố V, một chiều hướng đi huyện T, mặt đường trải nhựa asphan tương đối bằng phẳng, tổng chiều rộng lòng đường Quốc lộ 2B tại khu vực giao cắt với tỉnh lộ 310C là 24,10m; chiều đường Q hướng đi thành phố V và huyện T đều có 02 làn đường, mặt đường trải nhựa asphan, lòng đường rộng 7,30m. Đường tỉnh lộ 310C là đường hai chiều, một chiều đường hướng đi huyện B, một chiều đường hướng đi Quốc lộ B; phần đường tỉnh lộ 310C từ Quốc lộ B đi Quốc lộ B là đường đôi có dải phân cách cố định đang trong quá trình sửa chữa nâng cấp, mặt đường trải nhựa asphan tương đối bằng phẳng, chiều rộng lòng đường tỉnh lộ 310C theo hướng đi ra Quốc lộ B là 11,20m; phần đường tỉnh lộ 310C từ Quốc lộ B đi huyện B là đường hai chiều, mặt đường đổ nền bê tông tương đối bằng phẳng. Lối mở từ đường Q dẫn vào đường tỉnh lộ 310C hướng đi ra Quốc lộ B rộng 68m. Khoảng cách giữa 02 đầu dải phân cách đường Quốc lộ 2B để rẽ đi tỉnh lộ 310C rộng 26,10m. Trước khi tới khu vực hiện trường ở mép phải Quốc lộ B theo chiều đi thành phố V có cắm các biển báo giao nhau với đường không ưu tiên, biển báo hướng dẫn đường đi, biển báo nhường đường cho người đi bộ qua đường, biển báo có đèn tín hiệu giao thông, cột đèn tín hiệu giao thông. Trước khi tới khu vực hiện trường ở mép phải Quốc lộ B theo hướng đi huyện T có cắm các biển báo giao nhau với đường không ưu tiên, biển báo hướng dẫn đường đi, biển báo nhường đường cho người đi bộ qua đường, biển báo có đèn tín hiệu giao thông, cột đèn tín hiệu giao thông. Tại hiện trường ghi nhận 02 phương tiện, 07 dấu vết được đánh số thứ tự từ (1) đến (9). Lấy cột đèn “CS12” cắm trên dải phân cách cố định đường Quốc lộ 2B làm mốc chuẩn. Lấy mép phải Quốc lộ B chiều đi thành phố V làm mép đường chuẩn. Sử dụng đơn vị đo là mét (m). Hiện trường cụ thể: Số (1) trên sơ đồ hiện trường là đám vết cà xước kích thước (0,24 x 0,04)m ở mặt đường Quốc lộ 2B. Đầu (1) cách mốc chuẩn 31,5m và cách mép đường chuẩn 1,85m; cuối (1) cách mép đường chuẩn 2,16m. Số (2) trên sơ đồ hiện trường là đám chất lỏng màu nâu đen, kích thước (0,75 x 0,54)m bám dính ở mặt đường Q. T4 (2) cách mốc chuẩn 31,4m và cách mép đường chuẩn 1,04m. Số (3) trên sơ đồ hiện trường là đám chất dịch màu nâu đỏ, kích thước (0,74 x 0,36)m
bám dính ở mặt đường Q, dạng chảy loang. T4 (3) cách mốc chuẩn 31,90m và cách mép đường chuẩn 1,36m. Số (4) trên sơ đồ hiện trường là đám chất dịch màu nâu đỏ kích thước (0,36 x 0,18)m dạng chảy loang, bám dính ở mặt đường Q. T4 (4) cách mốc chuẩn 30,75m và cách mép đường chuẩn 1,47m. Số (5) trên sơ đồ hiện trường là đám chất dịch màu nâu đỏ, kích thước (0,38 x 0,28)m dạng chảy loang, bám dính ở mặt đường Q. T4 (5) cách mốc chuẩn 30,35m và cách mép đường chuẩn 1,68m. Số (6) trên sơ đồ hiện trường là xe mô tô không gắn biển kiểm soát, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave alpha, màu sơn xanh, nằm đổ ngang bên phải ở mặt đường Q, đầu xe hướng thành phố V, đuôi xe hướng T. Trục sau (6) cách mốc chuẩn 33,25m và cách mép đường chuẩn 3,14m; trục trước (6) cách mép đường chuẩn 2,10m. Số (7) trên sơ đồ hiện trường là đám vết cày xước kích thước (0,25x0,12)m ở mặt đường Q. Đầu (7) cách mốc chuẩn 32,22m và cách mép đường chuẩn 3,56m; cuối (7) cách mép đường chuẩn 3,66m. Số (8) trên sơ đồ hiện trường là khu vực nhựa vỡ, 03 đôi dép, thanh kim loại màu bạc trên diện (7,0 x 3,5)m nằm rải rác ở mặt đường. T4 (8) cách mốc chuẩn 31,5m và trùng với mép đường chuẩn. Số (9) trên sơ đồ hiện trường là xe ô tô BKS: 88C-265.16 đỗ ở mặt đường tỉnh lộ 310C chiều đi Quốc lộ B. Đầu xe hướng đi Quốc lộ B, đuôi xe hướng Quốc lộ B. Trục sau bên trái (9) cách mốc chuẩn 27,7m và cách mép đường chuẩn 26,97m; trục trước bên trái (9) cách mép đường chuẩn 30,63m. Trục sau bên phải (9) cách mép phải tỉnh lộ 310C hướng đi Quốc lộ B 1,35m; trục trước bên phải (9) cách mép phải tỉnh lộ 310C hướng đi Quốc lộ B 1,50m. Mặt ngoài thành thùng bên phải xe này có bám dính đám chất cân cơ trên diện (0,24 x 0,16)m, điểm thấp nhất cao cách mặt nền đường 1,35m. Cản hông bên phải móp méo, biến dạng xô lệch khỏi vị trí ban đầu theo hướng từ phải sang trái. Chắn bùn bánh sau bên phải móp méo, biến dạng hướng từ trước ra sau.
Ngay sau khi xảy ra sự việc, cơ quan điều tra đã tiến hành thu mẫu máu của Đinh Văn N, anh Nguyễn Trung N1, cháu Nguyễn Tùng D, cháu Trần Huy T2 và tử thi Lưu Quang T để tiến hành giám định theo quy định.
Đối với thương tích của cháu Nguyễn Tùng D: Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 423/KLTTCT-PYVP ngày 16/10/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh V, xác định: “Các kết quả chính: Sẹo vết thương phần mềm 1/3 trên mặt trước trong cánh tay phải kích thước trung bình, xếp 02%. Sẹo vết thương phần mềm mặt trước 1/3 giữa cánh tay phải kích thước nhỏ, xếp 01%. Gãy xương sườn 1 bên phải, xếp 02%. Chấn thương gan độ IV điều trị bảo tồn, xếp 07%. Chấn thương thận độ II điều trị bảo tồn, xếp 06%. Hình ảnh theo dõi tổn thương đụng dập nhu mô phổi hai bên, tràn khí khoang màng phổi không có trong danh mục xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích đã mô tả nêu trên có thể là do vật tày gây nên. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Tùng D tại thời điểm giám định là 17% (Mười bảy phần trăm).”.
Đối với thương tích của cháu Trần Huy T2: Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 424/KLTTCT-PYVP ngày 16/10/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh V, xác định: “Các kết quả chính: Sẹo niêm mạc trong môi trên (đã khâu) xếp
01%. Sẹo vết thương phần mềm mặt trong gối trái kích thước trung bình xếp 02%. Chấn thương phức hợp mũi - sàng (vỡ xương mũi hai bên, di lệch vách ngăn mũi, gãy cánh lớn xương bướm, mỏm chân bướm hai bên, xoang sàng hai bên) xếp 37%. Gãy xương hàm trái còn phương tiện kết hợp xương xếp 08%. Gãy thành ngoài, thành trong trần sàng ổ mắt trái xếp 06%. Vỡ thành xoang hàm hai bên mỗi bên xếp 07%; 07%. Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích đã mô tả trên có thể là do vật tày gây nên. Hiện tại đương sự đang điều trị các tổn thương, khi nào ra viện ổn định giám định bổ sung. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Huy T2 tại thời điểm giám định là 59% (Năm mươi chín phần trăm).
Ngày 20/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh V giám định bổ sung đối với thương tích của cháu Trần Huy T2 nhưng cháu T2 cùng người đại diện hợp pháp không hợp tác, kiên quyết từ chối đi giám định, đồng thời có đơn từ chối giám định bổ sung và cam kết không có thắc mắc hay yêu cầu, đề nghị gì khác.
Kết quả giám định nguyên nhân chết của cháu Lưu Quang T: Tại Kết luận giám định tử thi số 2124/KLGĐTT-PC09-PY ngày 23/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V, xác định: “Kết quả khám nghiệm: Toàn thân có nhiều vết sây sát, mài trượt, rách da, bầm tụ máu. Chảy máu qua mũi miệng. Gãy hở, gãy dập xương cánh tay trái. Gãy cung bên xương sườn số 8 bên trái, khoang ngực hai bên có nhiều máu không đông. Rách thành bên cung động mạch phổi. Trong ổ bụng có máu không đông. Dập vỡ mặt trước gan. Kết luận: Nguyên nhân chết của Lưu Quang T: Đa chấn thương.”
Kết quả định giá thiệt hại về tài sản: Tại Kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐĐGTS ngày 21/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, xác định: “Tổng giá trị thiệt hại trên xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu sơn xanh, không có biển kiểm soát là 4.810.000 đồng (Bốn triệu tám trăm mười nghìn đồng). Tổng giá trị bị thiệt hại trên xe ô tô BKS: 88C- 265.16, nhãn hiệu MIGHTY DONGVANG, loại xe tải có mui là 2.900.000 đồng (Hai triệu chín trăm nghìn đồng).”
Kết quả giám định hóa pháp lý mẫu mảnh nhựa màu trắng bám dính ở thành thùng xe bên phải xe ô tô BKS: 88C – 265.16: Tại Kết luận giám định số 2085/KL-KTHS ngày 18/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận: “Mảnh nhựa màu trắng bám dính trên thành xe bên phải xe ô tô tải BKS: 88C-265.16 (ký hiệu A) có cùng loại với mẫu nhựa của ốp nhựa bảo vệ cụm đèn chiếu sáng phía trước trên xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave alpha, màu sơn xanh, xe không có biển kiểm soát (ký hiệu M).”.
Kết quả giám định kỹ thuật số và điện tử: Tại Kết luận giám định số 2319/KL-KTHS ngày 12/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V xác định: “Trích xuất được 14 (mười bốn) ảnh diễn biến từ hai tệp video lưu trong mẫu vật gửi giám định; chi tiết được thể hiện trong Phụ lục giám định. Sao lưu được 02 tệp video lưu trong mẫu vật gửi giám định vào 02 đĩa DVD. Kèm theo kết luận giám định: Hai đĩa DVD và 01
Phụ lục giám định có chữ ký của giám định viên.” Qua giám định cho thấy: Ảnh 1, 2: Xuất hiện phương tiện A (mũi tên màu đỏ) kiểu dáng xe tải, đi đến ngã tư giao cắt thì rẽ sang bên trái hướng di chuyển của mình. Ảnh 3, 4: Khi phương tiện A đang di chuyển rẽ trái cắt ngang qua đường, thì ở hướng đường ngược chiều xuất hiện phương tiện B (khung màu đỏ) kiểu dáng xe hai bánh đang đi đến. Ảnh 5, 6: Khi phương tiện A (mũi tên màu đỏ) đang di chuyển rẽ trái cắt ngang qua đường, thì ở hướng đường ngược chiều xuất hiện phương tiện B (khung màu đỏ) kiểu dáng xe hai bánh đi đến. Ảnh 7, 8: Phương tiện B va chạm với phương tiện A. Sau đó phương tiện B và người trên phương tiện B đổ ngã xuống đường. Phương tiện A tiếp tục di chuyển. Ảnh 9, 10: Phương tiện B va chạm với phương tiện A. Sau đó phương tiện B và người điều khiển phương tiện B đổ ngã xuống đường. Phương tiện A tiếp tục di chuyển qua vị trí người và phương tiện B. Ảnh 11: Phương tiện A (mũi tên màu đỏ) dừng lại. Phương tiện B và người trên phương tiện B nằm trên đường (khung màu đỏ). Ảnh 12: Phương tiện A (mũi tên màu đỏ) di chuyển và dừng đỗ ở lề đường. Ảnh 13, 14: Một số người dân đến xem xét người trên phương tiện B.
Kết quả giám định, nồng độ cồn, ma túy: Tại các Kết luận giám định số 2016/KL-KTHS ngày 10/7/2024 và số 2026/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận: “Không phát hiện thấy có cồn (E) và chất ma túy thường gặp trong mẫu máu của Đinh Văn N gửi giám định”. Tại các Kết luận giám định số 2015/KL-KTHS ngày 10/7/2024 và số 2033/KL-KTHS ngày 13/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận: “Không phát hiện thấy có cồn (E) và chất ma túy thường gặp trong mẫu máu của tử thi Lưu Quang T”. Tại các Kết luận giám định số 2017/KL-KTHS ngày 10/7/2024 và số 2034/KL-KTHS ngày 13/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận: “Không phát hiện thấy có cồn (E) và chất ma túy thường gặp trong mẫu máu của Nguyễn Trung N1 gửi giám định”.
Kết quả xác minh giấy phép lái xe: Tại Công văn trả lời số 2252/SGTVT-QLVT,PT&NL ngày 11/7/2024 của Sở Giao thông Vận tải tỉnh V xác định: “Ngày 16/02/2024, Đinh Văn N đã được Sở Giao thông vận tải tỉnh V cấp giấy phép lái xe hạng C, số 2601.840.044.36, có giá trị sử dụng đến ngày 16/02/2029. Không tìm thấy thông tin nào liên quan đến việc đã cấp giấy phép lái xe cho người có tên Lưu Quang T”.
Tại Cáo trạng số 15/CT-VKSTD ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương truy tố Đinh Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, c khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội đối với Đinh Văn N, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đinh Văn N phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Đinh Văn N từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 03 (Ba)
tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 (bốn) năm đến 04 (năm) 06 (sáu) tháng, thời gian thử thách thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã H, huyện T giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự cấm hành nghề lái xe bị cáo từ 01 năm đến 02 năm kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Xác nhận cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại anh Đỗ Văn C 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 88C- 265.16, nhãn hiệu MIGHTY DONGVANG là tài sản hợp pháp của ông Đỗ Văn C, anh C đã nhận lại xe cùng giấy tờ và không có yêu cầu đề nghị gì.
Xác nhận cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại bà Đào Thị T1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu xanh, không gắn biển kiểm soát là tài sản hợp pháp của bà Đào Thị T1, bà T1 đã nhận lại xe cùng giấy tờ và không có yêu cầu đề nghị gì.
Đối với Giấy phép lái xe ô tô hạng C, số 2601.8400.4436, do Sở Giao thông Vận tải tỉnh V cấp cho Đinh Văn N có giá trị sử dụng đến ngày 16/02/2029, là giấy tờ cá nhân của Đinh Văn N, đề nghị trả lại cho N nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án dân sự.
Đối với mẫu trả hoàn lại sau giám định kèm theo Kết luận giám định số 2085/KL-KTHS ngày 18/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh V, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Ý kiến của những người tham gia tố tụng:
Quá trình điều ra người bị hại cháu Nguyễn Tùng D trình bày cháu D là bạn của cháu Lưu Quang T và cháu Trần Huy T2, khoảng 17 giờ ngày 03/7/2024 nhóm cháu D cùng nhau rủ xuống V chơi, khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha không biển kiểm soát đến đón cháu D và sau đó cháu T lái xe chở cháu D và cháu T2 đi xuống V, cháu T điều khiển xe với vận tốc khoảng 80 đến 90km/h và không giảm tốc độ đi khi vào ngã tư giao cắt giữa QL2B với đường TL310C thì xe cháu T điều khiển va chạm giao thông và cả cháu T, cháu D và cháu T2 đều ngã ra đường, sau đó được mọi người đưa đi cấp cứu.
Quá trình điều và tại phiên toà người bị hại cháu Trần Huy T2 trình bày cháu T2 là bạn của cháu Lưu Quang T và cháu Nguyễn Tùng D, khoảng 17 giờ ngày 03/7/2024 nhóm cháu D cùng nhau rủ xuống V chơi, khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày cháu T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha không biển kiểm soát chở cháu D đến và đón cháu T2 cùng đi chơi, sau đó cháu T lái xe chở cháu D và cháu T2 đi xuống V, cháu T điều khiển xe với vận tốc khoảng 80 đến 90km/h và không giảm tốc độ khi vào ngã tư giao cắt giữa QL2B với đường TL310C thì xe cháu T điều khiển va chạm giao thông và cả cháu T, cháu D và cháu Tuyên đều ngã ra đường và sau đó được mọi người đưa đi cấp cứu.
Quá trình điều tra đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lưu Văn H1 và bà Đào Thị T1 (bố, mẹ cháuTùng) và người đại diện theo uỷ quyền của bà T1 là ông Lương Văn H2 (chồng bà T1) trình bày: Nguyên nhân gây tai tại giao thông dẫn đến cháu T chết chủ yếu là do lỗi của cháu T điều khiển xe không có bằng lái xe và không tuân thủ luật giao thông đường bộ, sau khi sự việc xảy ra Đinh Văn N đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông H2, bà T1 số tiền 120.000.000đ, ông H2, bà T1 xác nhận đã nhận hỗ trợ về dân sự và không yêu cầu gì khác. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu xanh, không gắn biển kiểm soát. Sau khi xảy ra sự việc, xe mô tô bị hư hỏng, giá trị thiệt hại là 4.810.000đ, bà T1 xin tự khắc phục sửa chữa và không có yêu cầu gì.
Quá trình điều tra đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trần Văn L và bà Trương Thị G (bố, mẹ cháu T2) trình bày: Sau khi sự việc xảy ra Đinh Văn N đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông, L, bà G số tiền 5.000.000đ, ông L, bà G xác nhận đã nhận hỗ trợ về dân sự và không yêu cầu gì khác.
Quá trình điều tra đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn H3 và bà Trần Thị T3 (bố, mẹ cháu D) trình bày: Sau khi sự việc xảy ra Đinh Văn N đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông H3, bà T3 số tiền 2.000.000đ, ông H3, bà T3 xác nhận đã nhận hỗ trợ về dân sự và không yêu cầu gì khác.
Quá trình điều tra và tại phiên toà bị đơn dân sự anh Đỗ Văn C xác nhận anh là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 88C- 265.16, nhãn hiệu MIGHTY DONGVANG, anh có thuê anh Đinh Văn N lái xe để chở hàng xuống Hà Nội giao cho khách vào ngày 03/7/2024, việc N gây tai nạn giao thông, xe ô tô bị hư hỏng, giá trị thiệt hại là 2.900.000đ, anh đã nhận lại xe và không có yêu cầu, đề nghị bồi thường gì đối với Đinh Văn N.
Bị cáo N không bào chữa và tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo Đinh Văn N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, kết quả khám nghiệm hiện trường, phương tiện, kết quả giám định, kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự, hậu quả do tội phạm gây ra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 20h20 ngày 03/7/2024, Đinh Văn N điều khiển xe ô tô nhãn hiệu MIGHTY DONGVANG, loại xe tải có mui, màu xanh, biển kiểm soát: 88C- 265.16 (có giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở Giao thông Vận tải tỉnh V cấp có thời hạn đến ngày 16/02/2029) chở anh Nguyễn Trung N1 ngồi ở ghế phụ đi trên đường Q theo hướng V đi T. Khi đến ngã tư giao nhau giữa đường Q với đường tỉnh lộ 310C thuộc địa phận tổ dân phố G, thị trấn K, huyện T, Đinh Văn N điều khiển xe ô tô với tốc độ khoảng 20km/h và chuyển hướng rẽ trái để đi vào đường tỉnh lộ 310C theo hướng đi xã Đ, huyện T, do Đinh Văn N chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đi chuyển hướng xe chạy hoặc tầm nhìn bị hạn chế nên khi đến giữa ngã tư giao nhau thì phần đầu xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu sơn xanh, không gắn biển kiểm soát do cháu Lưu Quang T điều khiển chở cháu Nguyễn Tùng D và cháu Trần Huy T2 đã đâm vào phần thùng xe bên phải phía sau xe ô tô Nam điều khiển làm cháu T, cháu D, cháu T2 cùng xe mô tô bị ngã văng ra đường. Hậu quả: Cháu T bị tử vong, cháu D và cháu T2 bị thương tích với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 76% (trong đó, cháu D bị tổn hại sức khoẻ 17% và cháu T2 bị tổn hại sức khoẻ 59%); xe mô tô và xe ô tô bị hư hỏng tổng thiệt hại là 7.710.000đ.
Hành vi của Đinh Văn N điều khiển xe ô tô chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi chuyển hướng xe chạy hoặc tầm nhìn bị hạn chế đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật giao thông đường bộ; khoản 2 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1 vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.
Khoản 1 Điều 15 Luật giao thông đường bộ quy định về chuyển hướng xe: “Trong khi chuyển hướng, người lái xe... chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.”
Khoản 2 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1 vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ: “Các trường hợp phải giảm tốc độ: Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
2. Chuyển hướng xe chạy hoặc tầm nhìn bị hạn chế;”
Hành vi của Đinh Văn N đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng làm chết 01 người và gây thương tích tổn hại sức khoẻ của 02 người có tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể 76% nên đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, c Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây hiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến
100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a, Làm chết người;
c, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
Xét tính chất vụ án là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây ra thiệt hại cho tính mạng, sức khoẻ của người khác, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình bị hại. Nguyên nhân chủ yếu là do ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông. Đấu tranh với các hành vi vi phạm quy định an toàn giao thông nói chung trong đó có an toàn giao thông đường bộ nói riêng nhằm thiết lập lại sự bình yên, hạnh phúc cho mọi người và trật tự, an toàn cho xã hội là cần thiết.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đinh Văn N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo N đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quá trình giải quyết vụ án bị cáo N đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các gia đình bị hại, nên bị cáo N được áp dụng các điểm s, b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và vụ việc dẫn đến tai nạn giao thông trên do lỗi chủ yếu của người bị hại điều khiển phương tiện giao thông không có giấy phép lái xe (chưa đủ tuổi), chở vượt quá số người quy định, không làm chủ tốc độ, thiếu quan sát, nên bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự(sửa đổi, bổ sung năm 2017) là căn cứ để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo khi lượng hình.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Đinh Văn N thấy rằng: Bị cáo N không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trong vụ án này bị hại là người có lỗi chủ yếu dẫn đến tai nạn giao thông. Tuy hậu quả gây ra là nghiêm trọng nhưng bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên hành vi phạm tội của bị cáo đáng được khoan hồng và có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao cho chính quyền địa phương nơi thường trú giám sát, giáo dục với mức án như đề nghị của Viện kiểm sát là đủ tác dụng để răn đe, phòng ngừa chung cũng như tạo điều kiện
giúp bị cáo có cơ hội tự cải tạo, sửa chữa sai lầm để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo đã bị Toà án nhân dân huyện Tam Dương xét xử 03 năm tù cho hưởng án treo, về tội “Phá huỷ công trình quan trọng về an ninh quốc gia” thời điểm N phạm tội là người chưa thành niên.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Nên cần cấm hành nghề lái xe bị cáo 02 (hai) năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, đại diện hợp pháp của bị hại là ông Lưu Văn H1 và bà Đào Thị T1 (bố, mẹ cháu T) đã nhận số tiền bồi thường của bị cáo là 120.000.000đ; ông Trần Văn L và bà Trương Thị G (bố, mẹ cháu T2) đã nhận số tiền bồi thường 5.000.000đ; ông Nguyễn Văn H3 và bà Trần Thị T3 (bố, mẹ cháu D) đã nhận số tiền bồi thường là 2.000.000đ. Quá trình điều tra và xét xử người đại diện hợp pháp của bị hại cũng không có bất cứ yêu cầu gì khác về dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Xác nhận cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại anh Đỗ Văn C 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 88C- 265.16, nhãn hiệu MIGHTY DONGVANG là tài sản hợp pháp của ông Đỗ Văn C, anh C đã nhận lại xe cùng giấy tờ và không có yêu cầu đề nghị gì.
Xác nhận cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại bà Đào Thị T1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu xanh, không gắn biển kiểm soát là tài sản hợp pháp của bà Đào Thị T1, bà T1 đã nhận lại xe cùng giấy tờ và không có yêu cầu đề nghị gì.
Đối với Giấy phép lái xe ô tô hạng C, số 2601.8400.4436, do Sở Giao thông Vận tải tỉnh V cấp cho Đinh Văn N có giá trị sử dụng đến ngày 16/02/2029, là giấy tờ cá nhân của Đinh Văn N, đề nghị trả lại cho N nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án dân sự.
Đối với mẫu trả hoàn lại sau giám định kèm theo Kết luận giám định số 2085/KL-KTHS ngày 18/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh V, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
[7] Đối với người liên quan trong vụ án bà Đào Thị T1 do cháu Lưu Quang T tự ý lấy xe mô tô trên sử dụng làm phương tiện đi lại rồi gây tai nạn, bà T1 không biết và không giao xe cho cháu T nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với hành vi của cháu Lưu Quang T điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe theo quy định, không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, đã vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 8; khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ và là một trong các nguyên nhân gây ra vụ tai nạn giao thông đường bộ nêu trên. Tuy nhiên, sau khi xảy ra tai nạn cháu T đã tử vong nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đinh Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 260; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đinh Văn N 02(Hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đinh Văn N cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách của án treo, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Đinh Văn N hành nghề lái xe ôtô trong thời hạn 02 (Hai) năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ đối với mẫu trả hoàn lại sau giám định kèm theo Kết luận giám định số 2085/KL-KTHS ngày 18/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh V.
Trả lại Đinh Văn N Giấy phép lái xe ô tô hạng C, số 2601.8400.4436, do Sở Giao thông Vận tải tỉnh V cấp cho Đinh Văn N nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án dân sự.
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan Công an huyện T với Chi cục thi hành án huyện Tam Dương).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Đinh Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Hoàng Thị Hạnh |
Trần Thị Kim Duyên |
Đào Văn Tiến |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đào Văn Tiến |
Bản án số 22/2025/HSST ngày 11/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (criminal case)
- Số bản án: 22/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Văn Nam vi phạm giao thông
