|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2025/HS-ST Ngày 10-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Ảnh
Ông Phạm Công Lương
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Minh Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Thông báo về việc hoãn phiên tòa số 05/TB-TA ngày 20/02/2025 đối với bị cáo:
NGUYỄN VIẾT HỒ T, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày
15/02/982 tại Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: K đường Ô, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; Con ông: Nguyễn Viết N (sinh năm 1953) và bà Hồ Thị M (sinh năm 1960) đều còn sống. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Bị cáo có vợ đã ly hôn và 01 con sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 12/11/2008 bị Công an phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 26A/2025/HSST-QĐ ngày 07/02/2025 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Bà Phạm Thị Thùy T1, sinh năm 1984; Địa chỉ: A đường N, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hồ Thị M, sinh năm 1960; Địa chỉ: K đường Ô, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1980; Địa chỉ: K đường T, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 15 phút ngày 01/10/2024, Nguyễn Viết Hồ T đi bộ từ nhà ra trước Công viên T đường T, phường T, quận H, để uống cà phê nhưng quán chưa mở nên đi về lại. Khi đi về, T phát hiện xe mô tô hiệu Honda Vision, màu đỏ - đen, biển số 43C1-789.81 của chị Phạm Thị Thùy T1 đang dựng trước Công viên, có sẵn chìa khóa trên xe. T nảy sinh ý định và đã trộm cắp xe đem về nhà cất giấu. Ngày 03/10/2024, T mở mặt nạ phía trước xe để đấu nối kích bình điện xe của T. Sau đó, T tháo biển số xe 43C1-789.81 ra, nhằm tránh bị phát hiện. Lúc 10 giờ 05 phút ngày 05/10/2024, Công an phường T kiểm tra thì phát hiện xe của chị T1 đang để tại sân nhà của bà Hồ Thị M là mẹ ruột của T tại K Ông Í, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng nên đã thu giữ. Chiều ngày 05/10/2024, Công an phường T mời Nguyễn Viết Hồ T đến làm việc, T đã khai nhận hành vi trộm cắp xe như trên và tự nguyện giao nộp biển số xe 43C1-789.81.
Vật chứng thu giữ:
Bà Hồ Thị M giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ đen, không có biển số, không có gương, bị tháo mặt nạ xe, số máy: JF66E- 0591571, số khung: 5813GY857826; trong cốp xe có 01 gương chiếu hậu; 01 mặt nạ xe màu đỏ.
Nguyễn Viết Hồ T giao nộp: 01 chiếc biển số xe: 43C1-789.81.
Ngoài ra còn thu giữ: 02 đoạn video clip ghi nhận hình ảnh T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ đen, biển số 43C1-789.81 về cất giấu tại nhà địa chỉ K Ông Í.
Theo Kết luận định giá tài sản số 100/KL-HĐĐGTS ngày 28/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS, UBND quận H, kết luận: Xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 43C1-789.81 nêu trên có trị giá 20.550.000 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Viết Hồ T đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như trên, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị HĐXX căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết Hồ T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng: khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Hồ T mức án từ 09 (tháng) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan CSĐT Công an quận H đã trả lại xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 43C1-789.81 cho chị Phạm Thị Quỳnh T2 là phù hợp pháp luật.
Lưu giữ tại hồ sơ vụ án: 02 đoạn video clip ghi nhận hình ảnh T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ đen, biển số 43C1-789.81 về cất giấu tại nhà địa chỉ K Ông Í.
Về dân sự: Chị Phạm Thị Quỳnh T2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận: Khoảng 04 giờ 15 phút ngày 01/10/2024, tại Công viên T đối diện nhà số A T, P. T, Q. H, TP ., bị cáo Nguyễn Viết Hồ T đã có hành vi trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 43C1-789.81 của chị Phạm Thị Quỳnh T2. Bản thân bị cáo có công việc, có thu nhập nhưng lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người khác đã dùng thủ đoạn lén lút chiếm đoạt tài sản cho bản thân với trị giá tài sản chiếm đoạt là 20.550.000₫ (Hai mươi triệu năm trăm năm mươi triệu đồng) nên cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 10/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu truy tố đối với bị cáo Nguyễn Viết Hồ T là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của người khác lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để chiếm đoạt. Hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người trưởng thành, đang trong độ tuổi lao động và đầy đủ sức khỏe để lao động thu nhập được những đồng lương chân chính nhưng vì muốn có nhiều tiền để tiêu xài mà không cần bỏ sức lao động nên đã thực hiện hành vi trộm cắp nên Hội đồng xét xử thấy cần phải quyết định một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm mục đích răn đe và giáo dục.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ khi lượng hình cho bị cáo. Sau khi phạm tội bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, ngoài lần phạm tội này đã chấp hành đúng chính sách, pháp luật; có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết phải cách ly bị cáo mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án treo và giao về địa phương giám sát giáo dục là thỏa đáng.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Thị Quỳnh T2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Cơ quan CSĐT Công an quận H đã trả lại xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 43C1-789.81 cho chị Phạm Thị Quỳnh T2 là phù hợp pháp luật.
- - Lưu giữ tại hồ sơ vụ án: 02 đoạn video clip ghi nhận hình ảnh T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ đen, biển số 43C1-789.81 về cất giấu tại nhà địa chỉ K Ông Í.
[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ.
[8] Xét các đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
I. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết Hồ T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Viết Hồ T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án 10/3/2025. Giao bị cáo về ủy ban nhân dân phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng giám sát giáo dục.
Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Viết Hồ T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
II. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Lưu giữ tại hồ sơ vụ án: 02 đoạn video clip ghi nhận hình ảnh T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ đen, biển số 43C1-789.81 về cất giấu tại nhà địa chỉ K Ông Í.
III. Án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Viết Hồ T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
IV. Người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án:
Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.
(Đã giải thích án treo)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Hà |
Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 22/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
