TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10-3-2025. V/v tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Bích Thơ
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Ngô Văn Khon.
- Bà Võ Thị Thủy.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thế Nhân – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 tháng 02 và ngày 10 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 về Tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 21 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bé H, sinh năm: 1982 (vắng mặt có đơn xin vắng);
- - Bị đơn: Anh Lê Thanh S, sinh năm: 1980 (vắng mặt không có lý do).
- Cùng nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/12/2024, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và trong quá trình xét xử;
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé H trình bày: Về hôn nhân chị H và anh S tự nguyện tìm hiểu khoảng 03 năm, sống chung nhưng không có tổ chức đám cưới, đăng ký kết hôn ngày 10/6/2003 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẩn do thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm sống, anh S lo ăn chơi không phụ giúp kinh tế gia đình để nuôi con, dù đã hàn gắn nhiều lần và ly thân từ tháng 7/2023(al) cho đến nay. Về con chung cháu Lê Chí K, sinh ngày 10/5/2002, cháu Lê Ngọc D, sinh ngày 01/01/2007, cháu Lê Khôi V, sinh ngày 28/04/2016, hiện nay cháu K và cháu D đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được, cháu V do chị H nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nay chị Nguyễn Thị Bé H yêu cầu ly hôn với anh Lê Thanh S, con chung cháu Lê Chí K và cháu Lê Ngọc D đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết, yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Lê Khôi V, sinh ngày 28/04/2016, không yêu cầu anh S cấp dưỡng cho con, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Lê Thanh S trình bày: Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 02 lần, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh S không cung cấp văn bản ý kiến, cũng như tham dự phiên hòa giải và phiên tòa 02 lần nên Tòa án không thu thập được lời khai, ý kiến của anh S về yêu cầu khởi kiện của chị H.
- Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật như đến tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, không có văn bản trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho mình là vi phạm Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Về hôn nhân chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Bé H đối với anh Lê Thanh S, về con chung chấp nhận yêu cầu của chị Bé H, giao cháu Lê Khôi V, sinh ngày 28/01/2016 cho chị B H tiếp tục nuôi dưỡng, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu. Anh S được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về pháp luật tố tụng:
[1.1.] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Lê Thanh S cư trú ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2.] Về quan hệ pháp luật: Chị H và anh S có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nay chị H yêu cầu ly hôn với anh S và yêu cầu nuôi dưỡng cháu Khôi V, nên phát sinh tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn và nuôi con chung, Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về pháp luật áp dụng: Tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
[1.4.] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị H vắng mặt có đơn xin vắng và bị đơn anh S vắng mặt lần thứ 2 không nêu lý do chính đáng. Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn anh S cố tình vắng mặt, không có ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh S là phù hợp và đúng theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị H và anh S hoàn toàn tự nguyện và thực tế đã xảy ra, anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong quá trình chung sống xuất phát từ mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống, anh S không chăm sóc gia đình và đã ly thân từ tháng 7/2023. Chị H yêu cầu ly hôn với anh S, anh S không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân là sự tự nguyện, không ai cưởng ép hay ép buộc, cả hai phải tôn trọng, giúp đở, chăm sóc, giữ gìn hạnh phúc gia đình, để nuôi dạy con, nhưng giữa chị H và anh S không có sự gắn kết, không có tiếng nói chung, mâu thuẩn trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, chị H và anh S đã được Tòa án thông báo hòa giải 02 lần để tạo cơ hội cho anh chị hàn gắn tình cảm, nhưng anh S không đến tham dự các phiên hòa giải, ly thân thời gian dài từ tháng 7/2023, từ đó cho thấy chị H và anh S không thể hàn gắn đoàn tụ được.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Bé H đối với anh Lê Thanh S là phù hợp và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung:
[2.2.1.] Về con chung đã thành niên: Cháu Lê Chí K, sinh ngày 10/5/2002, cháu Lê Ngọc D, sinh ngày 01/01/2007, đã trưởng thành tự lao động sinh sống được, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.2.2.] Về nuôi con chung chưa thành niên: Cháu Lê Khôi V, sinh ngày 28/04/2016, hiện nay cháu V do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu V, anh S không có ý kiến đối với yêu cầu nuôi con chung của chị H. Mặt khác, Cháu V có nguyện vọng được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Để đảm bảo cho cháu V có cuộc sống ổn định, phát triển tốt về thể chất và tinh thần, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cháu, phù hợp với nguyện vọng của cháu V, ổn định tâm lý và tình cảm của con và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên sau khi ly hôn.
Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị H đối với anh S, giao cháu Lê Khôi V, sinh ngày 28/04/2016 cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và có khả năng lao động là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con không ai được cản trở.
[2.2.3.] Về cấp dưỡng cho con: Chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Khôi V nhưng không yêu cầu anh S cấp dưỡng cho cháu Khôi V, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, chị H không phải nộp thêm.
Bị đơn anh Lê Thanh S không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[3] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Bé H đối với anh Lê Thanh S, cho chị Nguyễn Thị Bé H ly hôn với anh Lê Thanh S.
- Về con chung: Chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị Nguyễn Thị Bé H đối với anh Lê Thanh S.
Giao cháu Lê Khôi V, sinh ngày 28/04/2016 cho chị Nguyễn Thị Bé H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và có khả năng lao động.
Anh Lê Thanh S không phải cấp dưỡng cho cháu Lê Khôi V do chị Nguyễn Thị Bé H không yêu cầu anh Lê Thanh S cấp dưỡng cho cháu Khôi V.
Sau khi ly hôn, anh Lê Thanh S không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con mà không ai được cản trở.
Anh Lê Thanh S không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Nguyễn Thị Bé H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của anh Lê Thanh S.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Nguyễn Thị Bé H đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007219 ngày 27/12/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, chị Nguyễn Thị Bé H không phải nộp thêm.
Bị đơn anh Lê Thanh S không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 10/3/2025). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lý Thị Bích Thơ |
Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
