Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM YÊN

TỈNH TUYÊN QUANG

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày: 10 - 3 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Đức Quỳnh;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Quang Luân;
  2. Ông Nguyễn Duy Sự;

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Phạm Trung Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên xét xử sơ thẩm công khai phiên tòa rút kinh nghiệm vụ án hình sự thụ lý số: 17/2025/TLST-HS, ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Đặng Văn T (tên gọi khác: không); sinh ngày 06/6/1984 tại tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ (đảng phái, đoàn thể): Không.

Con ông Đặng Xuân T1, sinh năm 1956 và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1963; Anh chị, em ruột: Có 03 người bị cáo là thứ hai; Vợ: Đặng Thị N, sinh năm 1986; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2013;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 18/01/2024 bị Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng công cụ kích điện để khai thác thủy sản trái phép (phạt tiền 3.500.000 đồng), đã chấp hành.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị P - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

2. Phạm Công T2 (tên gọi khác: không); sinh ngày 24/4/1989 tại tỉnh Tuyên Quang;

Nơi cư trú: Thôn A T, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ (đảng phái, đoàn thể): Không.

Con ông Phạm Công T3, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1958; Anh chị, em ruột: Có 03 người bị cáo là thứ ba; Vợ: Nông Thị L2, sinh năm 1989; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2013;Tiền án, tiển sự: Không;

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Khúc Văn T4, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ năm 2010 đến tháng 7/2024, Đặng Văn T, cư trú tại thôn Đ, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang thực hiện hành vi Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng; thời gian từ tháng 2/2023 đến tháng 7/2024, Phạm Công T2, cư trú tại thôn A T, xã T, huyện H thực hiện hành vi Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, cụ thể:

Hành vi Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng của Đặng Văn T

Lần 01: Khoảng đầu năm 2010 (không xác định được ngày, tháng), T xuống nhà C (không xác định được họ, tên đệm, T quen khi cùng đi lao động tại Malaysia) chơi, C nói với T là có khẩu súng, nếu mua thì C sẽ bán cho, giá là 3.000.000 đồng. Do có nhu cầu mua súng về để săn bắn... nên T đồng ý và trả cho C 3.000.000 đồng, sau đó T mang súng về cất giấu ở góc nhà, bên ngoài che chắn bằng hòm tôn, túi và chăn. Do không có loại đạn và vỏ đạn phù hợp nên T chưa sử dụng.

Lần 02: Tháng 4/2023 (không xác định được ngày), T sử dụng điện thoại di động Xiaomi Redmi 12 (điện thoại đã bị mất) truy cập ứng dụng Youtube mục đích tìm kiếm người bán súng và đạn để mua về bắn chim, thú rừng... Khi truy cập Youtube của Nguyễn Thị Kim O, cư trú tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thấy quảng cáo bán súng bắn đầu đạn chì và có số điện thoại 0827.526.xxx; T lưu số điện thoại tên là “QUYNH TR (Quỳnh thể thao) và kết bạn qua Zalo. Sau khi kết bạn Zalo, T nhắn tin hỏi mua khẩu súng thì được người bán “QUYNH TT” trả lời giá 01 khẩu súng bắn đầu đạn chì là 8.000.000 đồng, T trả giá 7.900.000 đồng, thì “QUYNH TT” đồný bán. Về hình thức giao hàng bên bán, tháo rời từng linh kiện súng và gửi nhiều đơn hàng qua dịch vụ Ship Cod để tránh bị cơ quan chức năng phát hiện (khi nhận được linh kiện súng thì sẽ thanh toán tiền), T gửi thông tin cho “QUỲNH T (Đặng Văn T, địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, số điện thoại: 0963.662.xxx). Đến khoảng tháng 5/2023, T nhận được 04 đơn hàng từ dịch vụ chuyển phát Ship C lấy các tên ghi ngoài bao bì khác nhau (01 đơn hàng bên ngoài ghi “đồ gỗ phong thủy”, bên trong có bảng sủng, giá 2.500.000 đồng; 01 đơn hàng ghi “cần câu rút gọn”, bên trong có nòng sủng và ống giảm thanh, giá 2.600.000 đồng; 01 đơn hàng ghi “đồng hồ điện”, bên trong có quy súng loại 01 viên và ống ngắm, giá 2.800.000 đồng), do gửi thiếu núm tròn lắp trên tay cầm để kéo lên đạn trong quy súng nên sau đó “QUỲNH IT" đã gửi thêm linh kiện này cho T, khi nhận được các đơn hàng T đã trả tiền cho người giao hàng (không xác định được tên, địa chỉ người giao hàng) và đốt vỏ bao bì. Sau đó “QUYNH TT” gửi cho T video hướng dẫn lắp ráp súng rồi T lắp ráp các linh kiện thành khẩu súng. Ngoài ra T còn 02 lần mua đạn từ “QUYNH TT”, 03 hộp đạn (mỗi hộp đạn có 50 viên = 150 viên đạn với số tiền 2.300.000 đồng.

Sau khi mua, T đã nhiều lần sử dụng súng để bắn chim ở đồi cây khu vực gần nhà T (không xác định số lần, thời gian sử dụng, T đã bắn 146 viên đạn giữ lại 05 vỏ đạn). Sau mỗi lần sử dụng, T cất giấu súng tại mương thoát nước ở sau bếp.

Ngày 09/7 và ngày 18/7/2024, T đã giao nộp 02 khẩu súng, 04 viên đạn và 05 vỏ đạn cho Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T.

Hành vi Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng của Phạm Công T2

Khoảng tháng 02/2023 (không xác định được ngày), T2 sử dụng điện thoại di động OPPO A37 (điện thoại đã hỏng) truy cập ứng dụng Youtube để xem các video, trong đó có video quảng cáo bán súng ở kênh “Quỳnh Nemo” của Nguyễn Thị Kim O, cư trú tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, trên video có đăng số điện thoại để liên hệ. Do muốn mua súng về để săn bắn chim, T2 đã kết bạn qua zalo của người bán “Quỳnh Nemo”, rồi nhắn tin hỏi giá tiền mua linh kiện súng và đạn thì được trả lời “Quy súng loại một viên giả là 2.300.000 đồng, ống giảm thanh giá là 650.000 đồng, đạn thể thao giá từ 700.000 đồng đến 750.000 đồng/01 hộp đạn, trong mỗi hộp có 50 viên”. Sau đó, T2 đặt mua 01 hộp đạn thể thao (50 viên), giá 700.000 đồng, mục đích đặt thử để xem bên bán có bán hàng thật, uy tín không?. Về hình thức giao hàng, người bán “Quỳnh Nemo” sẽ gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh “ship cod” (nhận hàng mới thanh toán tiền cho nhân viên giao hàng), T2 đã gửi thông tin để nhận hàng (Phạm Công T2, số điện thoại 0348.550.xxx, địa chỉ: Thôn A T, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang). Khoảng đầu tháng 3/2023 (không xác định được ngày), T2 nhận được đơn hàng có hộp đạn từ nhân viên giao hàng (không xác định được tên, địa chỉ) và trả 700.000 đồng. Đến tháng 6/2023 (không xác định được ngày), T2 tiếp tục liên hệ đặt mua từ “Quỳnh Nemo” 01 quy súng loại một viên, 01 ống giảm thanh, 02 hộp đạn. Sau khi đặt mua, T2 nhiều lần nhận được các đơn hàng (quy súng, giá 2.300.000 đồng; ống giảm thanh, giá 650.000 đồng; 02 hộp đạn, giá 1.500.000 đồng) từ người giao hàng (không xác định được tên, địa chỉ), sau mỗi lần nhận T2 đã trả đủ tiền cho người giao hàng

Khoảng tháng 7/2023, thông qua mạng xã hội Youtube T5 đặt mua 01 nòng súng với giá 450.000 đồng (không xác định thông tin cụ thể; hình thức mua, giao nhận hàng, tiền cũng như khi mua quy súng, ống giảm thanh, đạn từ Q). Sau khi nhận hàng, T5 tự chế tạo 01 báng súng bằng gỗ xoan và lắp ráp các linh kiện súng (dùng máy khoan để khoan 02 lỗ trên báng súng, vặn 02 ốc vít gắn báng súng vào quy súng, lắp nòng súng, ống giảm thanh) thành khẩu súng hoàn chỉnh.

Khoảng tháng 9/2023 (không xác định được ngày), T5 làm bia bằng gỗ, dán giấy vẽ vòng tròn và dựng bia gần ta luy cạnh nhà, sau đó T5 đứng cách bia khoảng 15 mét, lắp đạn, lên đạn, bóp cò bắn từng viên đạn vào bia (bắn 09 viên), số vỏ đạn và đầu đạn đã bắn, T5 đã vứt bỏ. Sau khi sử dụng súng để bắn thử, T5 cho khẩu súng và số đạn còn lại vào bao tải đen và treo lên cây khế ở sau nhà. Đến tháng 11/2023 (không xác định được ngày), T5 tiếp tục đặt mua thêm 01 hộp đạn thể thao (50 viên) với giá là 800.000 đồng (không xác định được trang mạng xã hội). Đến khoảng tháng 06/2024, T5 lấy súng, đạn mang về cất giấu tại tủ ở nhà.

Đến ngày 11/7/2024, T5 tự nguyện giao nộp khẩu súng tự chế tạo và 191 viên đạn chưa sử dụng cho Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T.

* Tại Kết luận giám định số: 927/KL-KTHS ngày 31/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận (Súng và linh kiện súng thu giữ của Đặng Văn T):

  1. Mẫu vật ký hiệu A1 (01 khẩu súng có tổng chiều dài 142,5cm, báng súng liền ốp lót tay bằng goox, nòng súng bằng kim loại, nòng súng và ốp lót tay liên kết lỏng lẻo) gửi giám định là súng tự chế, không theo tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp, có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất, thuộc vũ khí quân dụng. Thời điểm giám định súng còn sử dụng để bắn được.

Tại Kết luận giám định số: 956/KL-KTHS ngày 31/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T đã, kết luận (Súng, đạn thu giữ của Đặng Văn T):

  1. Mẫu vật ký hiệu A1 (01 khẩu súng thân bằng gỗ, nòng súng bằng kim loại. có tổng chiều dài 107cm; súng có nắp 01 ống giảm thanh dài 15,2cm, đường kính ngoài 3,0cm và nắp 01 ống ngắm dài 36cm, đường kính đầu lớn 5,0cm, đường kính đầu nhỏ 4,9cm) gửi giám định là súng tự chế, không theo tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp, có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất, thuộc vũ khí quân dụng. Thời điểm giám định súng còn sử dụng để bắn được.
  2. Các mẫu vật ký hiệu A2

    04 (bốn) viên đạn gửi giám định là đạn thể thao cỡ (5,6x25,6)mm, được sử dụng cho súng thể thao hoặc các loại súng tự chế có cấu tạo phù hợp, có thể sử dụng được cho khẩu súng ký hiệu A1 gửi giám định, tại thời điểm giám định, các viên đạn có thể sử dụng được.

    05 vỏ đạn là vỏ đạn thuộc loại đạn thể thao cỡ (5,6x25,6)mm, có thể lắp vừa ổ chứa đạn khẩu súng ký hiệu A1 gửi giám định.

* Tại Kết luận giám định số 934/KL-KTHS ngày 26/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận (Súng, đạn thu giữ của Phạm Công T2):

  1. Khẩu súng gửi giám định (dài 52,3cm, báng súng làm bằng gỗ, màu đen, nòng súng làm bằng kim loại màu đen, súng có ống giảm thanh dài 15,3cm) là súng tự chế tạo, không theo tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp, có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất, thuộc vũ khí quân dụng, sử dụng được loại đạn thể thao cỡ (5,6x15,6)mm hoặc các loại đạn tự chế có kích thước phù hợp, hiện tại súng còn sử dụng để bắn được.
  2. Số đạn (191 viên) trong 02 hộp giấy và số đạn trong hộp nhựa gửi giám định là loại đạn thể thao cỡ (5,6x15,6)mm, thuộc vũ khí thể thao, có thể sử dụng cho các loại súng thể thao hoặc súng tự chế cỡ nòng 5,6mm, hiện còn sử dụng để bắn được, đạn có thể sử dụng để bắn được cho khẩu súng gửi giám định.

Vật chứng thu giữ:

Quá trình điều tra, Cơ quan An ninh điều tra của Phạm Công T2: 01 khẩu súng có tổng chiều dài 52,3cm, báng súng làm bằng gỗ, màu đen, nòng súng làm bằng kim loại màu đen; 191 viên đạn thể thao cỡ (5,6x15,6)mm (quá trình trưng cầu giám định đã bắn 05 viên, hiện còn 186 viên đạn và 05 vỏ đạn); 01 sim điện thoại số thuê bao 0348.550.xxx, trên sim có ghi số 0984 0480 0002 1989 658.

Quá trình điều tra, Cơ quan An ninh điều tra của Đặng Văn T: 02 khẩu súng (01 khẩu súng có tổng chiều dài 142,5cm, báng súng liền ốp lót tay bằng gỗ, nòng súng bằng kim loại; 01 khẩu súng thân bằng gỗ, nòng súng bằng kim loại, có tổng chiều dài 107cm; 04 viên đạn, 05 vỏ đạn có vỏ bằng kim loại màu vàng); 01 điện thoại Samsung Galaxy A25 5G màu xanh đậm, 01 sim, trên sim có ghi dãy số 8984 04800 88246 72166; 01 thẻ nhớ có ghi 32GB Micro, điện thoại đã qua sử dụng; 02 ống ngắm thường; 01 bộ phận gắn đèn la-ze với thân súng; 01 ống giảm thanh; 01 nắp được sử dụng để bảo vệ núm điều chỉnh ở ống ngắm; 01 bộ sạc pin tiểu; 01 đèn la-ze.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Phạm Công T2 và Đặng Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: Vật chứng, Kết luận giám định, lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số: 06/CT-VKSTQ-P2, ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”, theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự; truy tố Phạm Công T2 về tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo tội danh, điều luật và đề nghị:

  • Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”.
  • Tuyên bố: Bị cáo Phạm Công T2 phạm tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Văn T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Công T2 từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định; không áp dụng hình phạt bổ sung.
  • Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
    • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 khẩu súng có tổng chiều dài 52,3cm, báng súng làm bằng gỗ, màu đen, nòng súng làm bằng kim loại màu đen; 191 viên đạn thể thao cỡ (5,6x15,6)mm (quá trình trưng cầu giám định đã bắn 05 viên, hiện còn 186 viên đạn và 05 vỏ đạn); 01 sim điện thoại số thuê bao 0348.550.xxx, trên sim có ghi số 0984 0480 0002 1989 658; 02 khẩu súng (01 khẩu súng có tổng chiều dài 142,5cm, báng súng liền ốp lót tay bằng gỗ, nòng súng bằng kim loại; 01 khẩu súng thân bằng gỗ, nòng súng bằng kim loại, có tổng chiều dài 107cm; 04 viên đạn; 05 vỏ đạn có vỏ bằng kim loại màu vàng; 01 thẻ nhớ có ghi 32GB Micro; 02 ống ngắm thường; 01 bộ phận gắn đèn la-ze với thân súng; 01 ống giảm thanh; 01 nắp được sử dụng để bảo vệ núm điều chỉnh ở ống ngắm; 01 bộ sạc pin tiểu; 01 đèn la-ze.
    • + Trả lại cho bị cáo Đặng Văn T 01 điện thoại Samsung Galaxy A25 5G màu xanh đậm và 01 sim, trên sim có ghi dãy số 8984 04800 88246 72166.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Đặng Văn T trình bày và đề nghị: Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có 02 con còn nhỏ, nhận thức pháp luật của bị cáo có phần còn hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất trong khung đại diện Viện kiểm sát đề nghị, đề nghị miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã truy tố. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm của Kiểm sát viên về hình phạt và các vấn đề khác.

Nói lời sau cùng, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về việc xem xét hành vi của bị cáo.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Đặng Văn T và Phạm Công T2 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã truy tố. Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Các biên bản làm việc; Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật; Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Từ năm 2010 đến tháng 7/2024, trên địa bàn huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Đặng Văn T, cư trú tại thôn Đ, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang thực hiện hành vi Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng; Từ tháng 02/2023 đến tháng 7/2024, Phạm Công T2, cư trú tại thôn A T, xã T, huyện H thực hiện hành vi Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, cụ thể:

* Hành vi phạm tội của Đặng Văn T

Lần 1: Năm 2010 (không xác định được ngày, tháng), T mua 01 khẩu súng quân dụng của người có tên là C ở huyện S (không xác định được địa chỉ cụ thể), sau đó mang về nhà cất dấu, đến ngày 09/7/2024 T giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Lần 2: Tháng 4/2023 (không xác định được ngày), T mua bán trái phép 01 khẩu súng quân dụng và 03 hộp đạn (mỗi hộp 50 viên = 150 viên) của Nguyễn Thị Kim O (thường gọi là Quỳnh N1), cư trú tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, sau khi mua súng T nhiều lần sử dụng để bắn chim khu vực đồi keo gần nhà, sau đó cất giấu súng tại mương thoát nước sau nhà. Đến ngày 18/7/2024 T giao nộp cho Cơ quan điều tra.

* Hành vi phạm tội của Phạm Công T2

Khoảng tháng 02/2023 đến tháng 7/2024, T2 đã thực hiện hành vi mua linh kiện súng và đạn (quy súng loại một viên; ống giảm thanh; 03 hộp đạn, mỗi hộp 50 viên) của Nguyễn Thị Kim O, cư trú tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; mua 01 nòng súng và 01 hộp đạn = 50 viên của Y (không rõ địa chỉ). Sau khi mua được linh kiện súng và đạn, tháng 9/2023, T2 chế tạo báng súng bằng gỗ xoan và lắp giáp thành 01 khẩu súng quân dụng, T2 làm bia và sử dụng 09 viên đạn bắn thử, sau đó cất dấu súng ở cây khế và dấu ở tủ trong nhà, đến ngày 11/7/2024, T2 giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”, bị cáo Phạm Công T2 phạm tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm vào trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm vào các quy định của Nhà nước về quản lý vũ khí quân dụng, đe dọa đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng vẫn cố ý chế tạo, mua súng tự chế thuộc vũ khí quân dụng và cất giấu súng, đạn ở gia đình mình. Do đó HĐXX thấy rằng cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục các bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo Phạm Công T2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Có nhiều tình tiết giảm nhẹ đó là: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu, bị cáo có bác là ông Nguyễn Văn Đ (anh trai ruột của mẹ bị cáo) được tặng huân chương chiến công giải phóng hạng ba, Bằng tổ quốc ghi công Liệt sĩ. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xét xử bị cáo mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp và có căn cứ.

- Bị cáo Đặng Văn T có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đó là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ đó là: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn có những hạn chế nhất định. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng công cụ kích điện để khai thác thủy sản trái phép (phạt tiền 3.500.000 đồng), đã chấp hành, nay lại thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp và có căn cứ.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền, phạt quản chế hoặc cấm cư trú) đối với các bị cáo.

[2] Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do Luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về việc xử lý vật chứng.

Quá trình điều tra Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T đã tạm giữ của bị cáo Phạm Công T2: 01 khẩu súng có tổng chiều dài 52,3cm, báng súng làm bằng gỗ, màu đen, nòng súng làm bằng kim loại màu đen; 191 viên đạn thể thao cỡ (5,6x15,6)mm (quá trình trưng cầu giám định đã bắn 05 viên, hiện còn 186 viên đạn và 05 vỏ đạn); 01 sim điện thoại số thuê bao 0348.550.xxx, trên sim có ghi số 0984 0480 0002 1989 658.

Thu giữ của bị cáo Đặng Văn T: 01 khẩu súng có tổng chiều dài 142,5cm, báng súng liền ốp lót tay bằng gỗ, nòng súng bằng kim loại; 01 khẩu súng thân bằng gỗ, nòng súng bằng kim loại, có tổng chiều dài 107cm; 04 viên đạn và 05 vỏ đạn có vỏ bằng kim loại màu vàng (giám định đã bắn 04 viên hiện còn 09 vỏ đạn); 01 điện thoại Samsung Galaxy A25 5G màu xanh đậm và 01 sim, trên sim có ghi dãy số 8984 04800 88246 72166; 01 thẻ nhớ có ghi 32GB Micro; 02 ống ngắm thường; 01 bộ phận gắn đèn la-ze với thân súng; 01 ống giảm thanh; 01 nắp được sử dụng để bảo vệ núm điều chỉnh ở ống ngắm.

Đối với 01 thẻ nhớ có ghi 32GB Micro, 01 bộ sạc pin tiểu, 01 đèn la-ze của bị cáo T đã qua sử dụng không còn giá trị, 01 sim 0348550387 trên sim có ghi số 0984 0480 0002 1989 658 bị cáo T2 không yêu cầu trả lại do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với các vật chứng còn lại là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Đối với 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy A25 5G màu xanh đậm của bị cáo Đặng Văn T và 01 sim điện thoại là tài sản cá nhân của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

[4] Các vấn đề khác:

- Đối với Nguyễn Thị Kim O cư trú tại Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông là người bán súng cho Đặng Văn T và bán linh kiện vũ khí quân dụng cho Phạm Công T2. Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh G đã khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị Kim O (tại Quyết định số: 05/QĐ-ANĐT ngày 02/01/2024) về tội Mua bán trái phép vũ khí quân dụng, quy định tại Khoản 2 Điều 304 Bộ luật Hình sự, do vậy không đề cập xử lý.

- Đối với hành vi mua vũ khí quân dụng (01 khẩu súng) của người có tên là C ở huyện S của Đặng Văn T, Quá trình điều tra không xác định được họ, địa chỉ cụ thể nên không đề cập xử lý.

- Ngoài ra trong quá trình điều tra còn xác định: Đặng Văn T còn có hành vi tàng trữ, mua bán 01 khẩu súng hơi với Khúc Văn T4 ở Thôn L, xà P, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; Khúc Văn T4 mua bán, tàng trữ 01 khẩu súng hơi với người có tên là C1 (không xác định được địa chỉ); Ngô Vũ Tùng A ở tổ A, phường N, thành phố T có hành vi tàng trữ 01 khẩu súng săn. Do hành vi không cấu thành tội phạm, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số: 01/QĐ-ANĐT ngày 03/01/2023 để chuyển đến người có thâm quyền đề nghị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo.

Về án phí: Bị cáo Phạm Công T2 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Đặng Văn T là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí, do đó miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh

Căn cứ khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”; Bị cáo Phạm Công T2 phạm tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt

- Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

- Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Phạm Công T2 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Công T2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 khẩu súng có tổng chiều dài 52,3cm, báng súng làm bằng gỗ, màu đen, nòng súng làm bằng kim loại màu đen; 191 viên đạn thể thao cỡ (5,6x15,6)mm (quá trình trưng cầu giám định đã bắn 05 viên, hiện còn 186 viên đạn và 05 vỏ đạn); 01 khẩu súng có tổng chiều dài 142,5cm, báng súng liền ốp lót tay bằng gỗ, nòng súng bằng kim loại; 01 khẩu súng thân bằng gỗ, nòng súng bằng kim loại, có tổng chiều dài 107cm; 04 viên đạn, 05 vỏ đạn có vỏ bằng kim loại màu vàng (giám định đã bắn 04 viên hiện nay còn 09 vỏ đạn); 01 thẻ nhớ có ghi 32GB Micro; 02 ống ngắm thường; 01 bộ phận gắn đèn la-ze với thân súng; 01 ống giảm thanh; 01 nắp được sử dụng để bảo vệ núm điều chỉnh ở ống ngắm; 01 bộ sạc pin tiểu; 01 đèn la-ze.
  • + Tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại số thuê bao 0348.550.xxx, trên sim có ghi số 0984 0480 0002 1989 658 (sim của bị cáo Phạm Công T2).
  • + Trả lại cho bị cáo Đặng Văn T 01 điện thoại Samsung Galaxy A25 5G màu xanh đậm, 01 sim, trên sim có ghi dãy số 8984 04800 88246 72166.

(Tình trạng vật chứng như bên bản giao nhận giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang lập ngày 28/02/2025 và ngày 06/3/2025).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Phạm Công T2 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đặng Văn T.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc nhận được bản án theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND huyện Hàm Yên;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Chi cục T.H.A dân sự huyện Hàm Yên;
  • - UBND xã Thái Sơn, H. Hàm Yên;
  • - Công an xã Thái Sơn, H .Hàm Yên;
  • - Công an xã Bằng Cốc, H.Hàm Yên;
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Đức Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 10/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG về vụ án hình sự về tội tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng và chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng và Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn Thanh tàng trữ vũ khí quân dụng trái phép
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger