Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ MỸ HÀO

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS - ST

Ngày: 07 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Hà

Bà Đặng Thị Tuyết Hương

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thúy Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2025/TLST - HS ngày 19/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST - HS ngày 24/02/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Kiều T, sinh ngày 24/5/2003 tại huyện I, tỉnh Gia Lai.

Tên gọi khác: Không. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn C, xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Phương B, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1975; chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  • - Chị Lò Thị N1, sinh năm 1998 (vắng mặt).
  • Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản C, xã Ằ, huyện M, tỉnh Điện Biên
  • Nơi tạm trú: Thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Chị Bùi Thị H, sinh năm 1980 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: Số nhà A, tổ dân phố B, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên
  • - Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1975 (có mặt).
  • Địa chỉ: Thôn C, xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên
  • - Chị Lường Thị D, sinh năm 1993 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: Bản L, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La

* Người làm chứng:

  • - Anh Nguyễn Minh T1, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Kiều T trú tại thôn C, xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên (T thuê phòng trọ của anh Nguyễn Kính V, sinh năm 1974 ở tổ dân phố N, phường N, thị xã M để ở). Chiều ngày 27/12/2024 chị Lò Thị N1 đến phòng trọ của T chơi và dựng xe mô tô biển số 27B2- 195.50 ở ngoài đường lối đi vào dẫy nhà trọ rồi lên phòng của T. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T có việc phải đi ra ngoài, thấy vậy chị N1 đưa chìa khóa xe của chị N1 để T dắt vào trong lán xe nhà trọ. T cầm chìa khóa dắt xe của chị N1 vào trong lán xe rồi mở cốp xe của chị N1 để lấy khẩu trang thì phát hiện trong cốp xe của chị N1 có 01 chiếc hộp hình chữ nhật bằng giấy cứng màu đỏ, 01 chiếc hộp bằng nhựa hình tròn mầu cam. Trinh biết bên trong hai chiếc hộp có vàng nên T lấy 02 hộp chiếc đựng vàng nói trên cho vào túi áo khoác xong khóa cốp xe lại rồi treo chìa khóa xe máy của chị N1 ở tay phanh xe đạp điện của chị Ngô Thị P, sinh năm 1996 ở Vĩnh Phúc và gọi chị N1 xuống cầm chìa khóa. Sau đó T điều khiển xe mô tô biển số 26B2- 644.88 đi bán vàng, trên đường đi đến vòng xuyến thuộc phường N, thị xã M, T dừng xe lại lấy 02 chiếc hộp ra kiểm tra phát hiện trong chiếc hộp nhựa hình tròn có 01 chiếc nhẫn bằng vàng 9999, loại nhẫn trơn bên trong chiếc nhẫn khắc chữ “Minh H1- MH 9999 0,5 chỉ”, trong chiếc hộp bằng giấy có 02 chiếc nhẫn bằng vàng 9999 loại nhẫn trơn bên trong chiếc nhẫn khắc chữ“ Minh H1- MH 9999 1chỉ” và 01 chiếc dây lắc (dây chuyền) vàng tây có nhiều mắt xích nhỏ màu vàng được gắn lại với nhau, có hình hoa bốn lá nên N1 dồn 02 chiếc nhẫn và sợi dây chuyền sang hộp nhựa rồi đút vào túi áo khoác phía ngoài bên trái, còn chiếc hộp bằng giấy N1 ném đi. T tiếp tục điều khiển xe đến Công ty trách nhiệm hữu hạn V1 ở số nhà A Phố B, phường B, thị xã M gặp chị Bùi Thị H, sinh năm 1980 là chủ cửa hàng để bán vàng. Chị H cho 03 chiếc nhẫn lên cân có khối lượng 2,5 chỉ với giá 20.380.000 đồng, chiếc lắc tay có khối lượng 0,5950g với giá 1.800.00 đồng. Trong lúc chờ chị H thanh toán tiền, T đã mua đôi khuyên tai bằng vàng tây với giá 2.890.000 đồng, nên chị H đối trừ tiền vào tiền mua vàng, số tiền còn lại 19.290.000 đồng chị H chuyển khoản trả T. Đến tối cùng ngày T mang đôi khuyên tai về tặng bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1975 là mẹ đẻ T rồi quay lên phòng trọ với chị N1. Còn chị H sau khi mua vàng của T, chị H đã gia công cùng sản phẩm khác thành trang sức bán tại cửa hàng, còn chiếc hộp nhựa đựng vàng chị H đã bỏ đi nên Cơ quan điều tra không quản lý được vật chứng nói trên.

Đến ngày 28/12/2024 chị Lò Thị N1 phát hiện bị mất số vàng nói trên và hỏi T, nhưng T không thừa nhận lấy trộm nên ngày 03/01/2025 chị N1 làm đơn trình báo Công an phường N, thị xã M và giao nộp hóa đơn mua vàng. Ngày 06/01/2025 Nguyễn Thị Kiều T đã đến đầu thú tại Công an phường N và tự nguyện giao nộp số tiền bán vàng được 22.180.000 đồng. Cơ quan điều tra tiến hành cho T chỉ dẫn đến vị trí T ném chiếc chiếc hộp hình vuông bằng giấy nhưng không quản lý được.

Ngày 09/01/2025 Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Thị Kiều T ở thôn C, xã C, thị xã M và phòng trọ ở tổ dân phố N, phường N, thị xã M. Kết quả không thu giữ được đồ vật tài liệu gì. Cơ quan điều tra tiến hành trích sao dữ liệu camera tại Công ty trách nhiệm hữu hạn V1 ghi lại hình ảnh Nguyễn Thị Kiều T đến bán vàng (được niêm phong ghi ký hiệu U).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐ ngày 07/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thị xã M kết luận giá trị tài sản tại thời điểm ngày 27/12/2024: 02 chiếc nhẫn bằng vàng 9999, đều là loại nhẫn trơn một chỉ có trị giá 16.304.000 đồng; 01 chiếc nhẫn bằng vàng 9999, loại nhẫn trơn nửa chỉ có giá trị 4.076.000 đồng; 01 chiếc dây lắc vàng tây 10k, khối lượng 0,5950g có giá trị 1.800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 22.180.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 18/KL- KTHS (KTS) ngày 03/02/2025 của Phòng K kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 05(năm) file video trong mẫu niêm phong ký hiệu U gửi giám định. Mẫu hoàn lại được niêm phong được lưu trữ trong hồ sơ vụ án. Quá trình điều tra xác định: Khi T mua đôi khuyên tai với giá 2.890.000 đồng, T lấy tiền trả chị H nhưng chị H lại đối trừ vào tiềnTrinh bán vàng. Khi đến đầu thú T đã nộp lại số tiền bán vàng 22.180.000 đồng, do vậy Cơ quan điều tra không quản lý đôi khuyên tai của bà N. Chiếc xe mô tô biển số 26B2- 644.88 là tài sản hợp pháp của bà Lương Thị D1, sinh năm 1993 trú tại bản Lứa Xe, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Việc T sử dụng chiếc xe làm phương tiện phạm tội chị D1 không biết, nên Cơ quan điều tra không quản lý chiếc xe mô tô nói trên.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thị Kiều T tự nguyện nộp lại số tiền bán vàng 22.180.000 đồng để trả lại cho chị N1, chị N1 đồng ý nhận số tiền trên. Còn 02 chiếc hộp khi mua vàng đã có sẵn nên chị N1 không yêu cầu đề nghị gì. Chị N1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T.

Tại bản cáo trạng số: 30/CT - VKSMH ngày 18/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên đã truy tố T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kiều T phạm tội Trộm cắp tài sản. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kiều T từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 07/3/2025.

Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự, biệp pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Thị Kiều T bồi thường cho chị Lò Thị N1 số tiền 22.180.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu, một trăm tám mươi nghìn đồng). Trả lại cho chị Lò Thị N1 số tiền 22.180.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu, một trăm tám mươi nghìn đồng).

(Số tiền 22.180.000 đồng theo phiếu ủy nhiệm chi ngày 18/02/2025).

Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với nội dung bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, bị cáo không tranh luận và đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hàovà kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng; biên bản khám nghiệm hiện trường vụ án; kết luận định giá tài sản cùng các vật chứng mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Với động cơ, mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 27/12/2024 tại tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Nguyễn Thị Kiều T đã có hành vi trộm cắp 2,5 chỉ vàng loại vàng 9999 trị giá 20.380.000 đồng, 01 sợi dây chuyền lắc tay bằng vàng tây 10k có trọng lượng 0,5950 gam trị giá 1.800.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 22.180.000 đồng, đến ngày 06/01/2025 T đến đầu thú tại Công an phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào truy tố bị cáo T về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, pháp luật nghiêm cấm nhưng để có tiền tiêu sài cá nhân bị cáo lợi dụng tài sản của bị hại không được trông coi đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang lo lắng trong quần chúng nhân dân đặc biệt là những công dân thuê trọ sinh sống trên địa bàn thị xã M, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Đối với chị H mua vàng của T và chị N được T tặng đôi khuyên tai nhưng không biết là do T phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử, trách nhiệm hình sự không đặt ra để xét.

[3]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý đối với bị cáo:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo tỏ ra ăn năn hối hận, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; bị cáo tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền 22.180.000 đồng để bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; sau khi phạm tội bị cáo đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Qua xem xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương, gia đình giám sát giáo dục bị cáo và tuyên phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp với đề xuất của Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng có tác dụng răn đe đối với bị cáo và có tính phòng ngừa chung.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp:

Chị N1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho chị số tiền 22.180.000 đồng; chị N1 xác định 02 chiếc hộp khi mua vàng đã có sẵn không thu hồi được nên chị N1 không yêu cầu bị cáo bồi thường. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 22.180.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho chị N1 (số tiền theo Phiếu ủy nhiệm chi ngày 18/02/2025), chị N1 nhất trí nhận lại số tiền trên và tự nguyện không yêu cầu T phải bồi thường gì thêm. Việc bị cáo nhất trí bồi thường theo yêu cầu của chị T là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, trả lại cho chị N1 số tiền 22.180.000 đồng.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kiều T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kiều T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 07/3/2025.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Kiều T cho Ủy ban nhân dân xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Về trách nhiệm dân sự, biệp pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Thị Kiều T bồi thường cho chị Lò Thị N1 số tiền 22.180.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu, một trăm tám mươi nghìn đồng). Trả lại cho chị Lò Thị N1 số tiền 22.180.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu, một trăm tám mươi nghìn đồng).

(Số tiền 22.180.000 đồng theo phiếu ủy nhiệm chi ngày 18/02/2025).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hình sự.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND, Công an, VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND, Chi cục THADS thị xã Mỹ Hào;
  • - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Phòng KTNV TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hưng Yên
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN THỊ OANH

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

VŨ THU HIỀN

BÙI VĂN ĐỘNG

NGUYỄN THỊ OANH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS - ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO, TỈNH HƯNG YÊN về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 22/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trinh173
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger