|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 162/2024/HS-ST; Ngày: 25-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Trang;
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Nguyễn Thị Kiều Hương;
- 2/ Ông Nguyễn Tất Ái.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 141/2024/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lương Thị K sinh ngày 22 tháng 4 năm 1978, tại tỉnh Tiền Giang; Số C;
Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: số D đường P, tổ A, khu phố F, phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Buôn bán; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 8/12; con ông Lương Tuấn K1 (đã chết) và bà Phạm Thị L sinh năm 1955; Bị cáo sống chung như vợ chồng với Đỗ Văn M; Bị cáo có 02 người con.
Tiền sự: 01 lần: Ngày 26/10/2023, bị Ủy ban nhân dân Phường C, thành phố M xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Quyết định số 43).
Ngoài ra, vào ngày 29/8/2022, bị Ủy ban nhân dân Phường C, thành phố M xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Quyết định số 488).
Tiền án: Không có.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/7/2024. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Trần Anh Q sinh năm 1995 (vắng mặt);
Nơi cư trú: số H đường L, phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. - Lê Thị Bích H sinh năm 1982 (vắng mặt);
Nơi cư trú: số C đường L, phường D, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Trần Tuấn K2 sinh năm 1970 (vắng mặt);
Nơi cư trú: số A đường N, phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. - Lương Thị Tuấn K3 sinh năm 1975 (vắng mặt);
Nơi cư trú: số E ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Võ Tấn L1 sinh năm 1974 (có mặt);
Nơi cư trú: số H ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lương Thị K là người đã có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo K tiếp tục thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố M, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 01/3/2024, bị cáo Lương Thị K điều khiển xe môtô biển số 63X2-7280 đi một mình đến cửa hàng G tại số A đường H, phường E, thành phố M của anh Trần Anh Q để tìm tài sản trộm. Khi vào bên trong, bị cáo K đã lợi dụng sự sơ hở của người bán hàng và lén lút lấy trộm 01 xe siêu anh hùng nháy, 01 xe địa hình, 01 xe biến hình robot, 01 xe nhào lộn, 01 xe điều khiển cảnh sát, 01 bịch bò viên, 03 bịch bánh rong biển cuộn, 03 bịch xúc xích rồi đi ngoài xe thì bị người trong cửa hàng phát hiện báo Công an nên bị cáo K đã giao nộp lại toàn bộ tài sản.
Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 19/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố M, kết luận: Tổng giá trị tài sản mà bị cáo K đã chiếm đoạt như đã nêu trên trị giá 456.000 đồng.
Vụ thứ hai: Lúc 9 giờ 30 phút ngày 22/5/2024, bị cáo Lương Thị K đang đi bộ ngang nhà số D đường P, phường G, thành phố M thì thấy xe đạp điện của chị Lê Thị Bích H dựng trước nhà, chìa khóa gắn sẵn trên xe, không người trông coi nên nảy sinh ý định trộm xe. Bị cáo K lén lút lên xe mở khóa điều khiển đến cửa hàng mua bán xe Tuấn Kiệt tại số A đường N, phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang bán xe cho ông Trần Tuấn K2 với giá 2.200.000 đồng. Lúc bán xe, bị cáo K giao xe và giấy bảo hành cho ông K2. Sau khi bị phát hiện bị cáo K đã giao nộp số tiền bán xe trên cho Công an phường G1.
Kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 26/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố M kết luận xe đạp điện có giá trị 8.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 132/CT-VKS-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đã truy tố bị cáo Lương Thị K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho vẫn giữ nguyên quan điểm về tội danh và khung hình phạt như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, diểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lương Thị K từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận Cơ quan điều trả cho bị hại Trần Anh Q: 01 xe siêu anh hùng nháy, 01 xe địa hình, 01 xe biến hình robot, 01 xe nhào lộn, 01 xe điều khiển cảnh sát, 01 bịch bò viên, 03 bịch rong biển, 03 bịch xúc xích; Cơ quan điều tra đã trả cho chị Lê Thị Bích H 01 xe đạp điện màu đen-xanh, số khung RMPYGÐMHMVB, số máy JZ48V500WB200802845;
Đề nghị trả lại cho Võ Tấn L1 01 xe mô tô nhãn hiệu Attila Victoria, số khung RLGH125HD7D009586, số máy VMM9BF-D009586, biển số 63X2-7280 vì đây là xe anh L1 đã cho bị cáo K mượn làm phương tiện để đi lại và không biết bị cáo K sử dụng xe đi trộm cắp tài sản.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét.
Phát biểu tự bào chữa của bị cáo Lương Thị K: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo chăm lo các con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều không có khiếu nại hay có ý kiến gì về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và trong quá trình điều tra, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nêu trên đã có lời khai cụ thể, đầy đủ, rõ ràng. Xét thấy sự vắng mặt của họ không gây khó khăn cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 và Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những đương sự theo thủ tục chung.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Lương Thị K đã khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào các ngày 01/3/2024 và ngày 22/5/2024, bị cáo Lương Thị K đã lợi dụng sự sở hở trong việc quản lý tài sản của bị hại, bị cáo Lương Thị K đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe siêu anh hùng nháy, 01 xe địa hình, 01 xe biến hình robot, 01 xe nhào lộn, 01 xe điều khiển cảnh sát, 01 bịch bò viên, 03 bịch bánh rong biển cuộn, 03 bịch xúc xích của anh Trần Anh Q và lén lút lấy trộm 01 xe đạp điện của chị Lê Thị Bích H trên địa bàn Phường E và Phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt 8.456.000 đồng. Bị cáo K là người có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được việc lấy trộm tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật. Bị cáo K là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài và lười lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Hành vi của cáo Lê Thị K4 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.0000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đã đưa ra chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo K4 về tội phạm nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo K4 đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được Nhà nước bảo vệ, hành vi đó không chỉ làm thiệt hại đến tài sản của người khác, mà còn gây hoang mang làm cho nhân dân không an tâm lao động, sản xuất, gây mất trật tự xã hội. Do vậy, cần phải có một hình phạt nghiêm khắc là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo biết tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung.
[4] Đối với ông Trần Tuấn K2 mua xe đạp điện do bị cáo K4 bán. Tuy nhiên trong lúc mua ông K2 không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý ông K2 về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật.
[5] Về nhân thân của bị cáo Lê Thị K4: Bị cáo có một tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, không có tiền án.
[6] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo K4 đều đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[7] Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều trả cho bị hại Trần Anh Q: 01 xe siêu anh hùng nháy, 01 xe địa hình, 01 xe biến hình robot, 01 xe nhào lộn, 01 xe điều khiển cảnh sát, 01 bịch bò viên, 03 bịch rong biển, 03 bịch xúc xích; Cơ quan điều tra đã trả cho chị Lê Thị Bích H 01 xe đạp điện màu đen – xanh, số khung RMPYGÐMHMVB, số máy JZ48V500WB200802845. Căn cứ Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, viejc xử lý vật chứng nêu trên là đúng quy định Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Attila Victoria, số khung RLGH125HD7D009586, số máy VMM9BF-D009586, biển số 63X2-7280 là xe của Võ Tấn L1. Anh L1 trình bày đã cho bị cáo K4 mượn làm phương tiện để đi lại và không biết bị cáo K4 sử dụng xe đi trộm cắp tài sản, anh L1 yêu cầu được nhận lại xe. Hội đồng xét xử trả lại xem mô tô trên cho anh L1.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo K4 đã nộp số tiền 2.200.000 đồng. Đây là tiền do bị cáo K4 bán xe đạp điện mà cho anh K2. Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả lại cho ông K2. Các bị hại, người liên quan đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về mức hình phạt là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.
[10] Về án phí: Bị cáo Lương Thị K phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lương Thị K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Lương Thị K 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 23 tháng 7 năm 2024.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả cho Võ Tấn L1 01 xe mô tô nhãn hiệu Attila Victoria, số khung RLGH125HD7D009586, số máy VMM9BF-D009586, biển số 63X2-7280.
Hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đang giữ toàn bộ các vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/11/2024.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lương Thị K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án số 162/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 162/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xin ly hôn
