|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2025/HS-ST Ngày 04 tháng 3 năm 2025 |
————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đức Xiêm
Các Hội thẩm nhân dân: 1/Ông Nguyễn Trung Tĩnh
2/Bà Ma Thị Trang Nhung
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hoàng Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST- HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Vũ Văn Đ; sinh ngày 10 tháng 9 năm 1992 tại huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi thường trú: Thôn N, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Vũ Văn P và bà Nguyễn Thị T; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/11/2024, hiện đang tại ngoại tại xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. (có mặt)
-
Họ và tên: Vũ Văn K; sinh ngày 25 tháng 10 năm 1988 tại huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi thường trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Vũ Văn T1 và con bà Trần Thị Đ1 (Đã chết); Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/11/2024, hiện đang tại ngoại tại xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. (có mặt)
- Bị hại:
-
Công ty cổ phần Đ2
Địa chỉ: Số nhà H ngõ A phố Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Anh T2 – Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Tạ Đức M, sinh năm 1987; trú tại khu L, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ theo Giấy ủy quyền ngày 25/8/2024 (vắng mặt)
-
Anh Cao Duy V, sinh năm 1980;
Trú tại: Khu H, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
-
Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968;
Trú tại: Thôn L, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt)
-
Anh Trần Văn L1, sinh năm 1996;
Trú tại: Thôn B, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Công ty Cổ phần Đ2 đang thi công lắp đặt trạm biến áp số A thuộc khu I, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ, giao cho anh Tạ Đức M làm quản lý. Vũ Văn Đ từng là lao động thi công lắp điện tại trạm Biến áp này nên Đ biết ở đây có sơ hở, có thể trộm cắp tài sản. Do không có tiền tiêu xài nên tối ngày 26/7/2024, Đ rủ Vũ Văn K đến khu vực này trộm cắp tài sản, K đồng ý. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Đ và K ngồi chơi uống nước cùng anh Trần Văn L1 (L1 là cậu của K) thì K và Đ hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu SYM Galaxy SR BKS 88C1-125.91 của anh L1, nói là đi có việc. Sau khi mượn được xe, Đ chở K đi đến khu I, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Đ và K đến khu vực trạm biến áp A thuộc khu I, xã C, huyện L cách khoảng 15m thì Đ nhìn thấy
01 chiếc máy bơm để tại bậc lên xuống ao sen, không có ai trông giữ, là máy bơm của anh Cao Duy V. Đ bảo K “Có máy bơm kìa, xuống lấy đi”. Hiểu ý Đ bảo đi trộm cắp chiếc máy bơm nên K xuống xe, nhanh chóng đi lại vị trí máy bơm, tháo ống nước nối với máy bơm rồi lấy máy bơm quay lại chỗ Đ đang đứng chờ, để bơm lên yên xe, vị trí giữa Đ và K đang ngồi. Đ chở K tiếp tục đi khoảng 15 mét nữa thì dừng lại bảo K “Đứng đây đợi để tao ra lấy”; sau đó Đ đi đến trạm Biến áp số A, biết
trạm biến áp chưa đấu điện nên Đ trèo lên, dùng tay tháo 04 đoạn dây cáp trung tính cuộn tròn lại trèo xuống mang đến chỗ K đang đứng; sau đó cả hai đi về xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 27/7/2024, Đ và K về đến đoạn nhà nghỉ T3 thuộc thôn L, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc thì vào đây thuê phòng ngủ. Vào nhà nghỉ, Đ và K gặp bà Nguyễn Thị L là quản lý nhà nghỉ, thuê được phòng nghỉ số 204. K mượn của bà L 01 chiếc khăn phủ lên máy bơm trên giá để hàng trước xe còn Đ mang dây cáp điện trộm cắp được lên phòng 204. Sau khi mang lên phòng, Đ bảo K quay xuống mượn 01 con dao để tách lấy lõi đồng. K đi xuống, mượn của bà L 01 con dao gọt hoa quả đem lên cùng Đ thay nhau cắt vỏ dây điện để lấy lõi đồng. Sau khi tách xong, các bị cáo đem lõi dây điện giấu trong kho bên cạnh phòng vệ sinh của nhà nghỉ. Đến khoảng 05 giờ sáng ngày 27/7/2024, Công an xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc đến kiểm tra hành chính nhà nghỉ T3, kiểm tra phòng 204 nơi Đ và K thuê nghỉ, phát hiện, tạm giữ: 03 đoạn dây kim loại màu vàng đồng, gồm nhiều sợi xoắn lại với nhau, mỗi đoạn dài 8,1m đường kính 0,8cm không có vỏ bọc, tổng khối lượng 7,5kg; 01 đoạn dây kim loại màu vàng đồng, gồm nhiều sợi xoắn lại với nhau dài 2m, đường kính 1,2cm không có vỏ bọc, tổng khối lượng 2kg; một số đoạn vỏ nhựa bọc dây điện có màu vàng - xanh kích thước khác nhau, có vết cắt dọc sắc gọn còn mới; trên các vỏ nhựa có in các ký tự chữ, xác định gồm: CADI-Sun 0,6/1KW-CU/PVC-CV35 và CADI-Sun 0,6/1KW-CU/PVC-CV95, tổng khối lượng 1,4kg; 01 máy bơm nước nhãn hiệu Thiên Long, loại bơm 2,2KW, màu sơn bạc (máy bơm cũ đã qua sử dụng) có đế bằng nhựa màu đen hình chữ nhật, dài 37cm, rộng 20cm, phần thân máy cao nhất 33cm, dài 50cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, phần lưng màu đỏ, không có ốp phía sau, đã qua sử dụng bên trong lắp sim số 0965.943.591; 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM-Galaxy SR BKS 88C1-125.91, màu sơn xanh đen, đã qua sử dụng; 01 con dao bằng kim loại, cán bằng gỗ, tổng chiều dài 37cm, phần cán dài 12cm, phần lưỡi kim loại dài 25cm, đã qua sử dụng.
Công an xã V, huyện L đã đưa Đ, Kỳ cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở công an xã để làm việc. Sau khi xác minh sơ bộ ban đầu, ngày 27/7/2024, Công an xã V, huyện L chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng và đối tượng có liên quan để Công an xã C, huyện L tiếp tục xác minh, giải quyết theo thẩm quyền. Cùng ngày 27/7/2024, anh Cao Duy V và anh Tạ Đức M có đơn trình báo đến Công an xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ về việc bị kẻ gian trộm cắp tài sản. Ngày 01/8/2024, Công an xã C chuyển tin báo về tội phạm, kèm theo tài liệu có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 03/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 813, đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L định giá tài sản mà Đ và K đã trộm cắp ngày 26/7/2024 tại khu I, xã C, huyện L.
Tại Bản kết luận định giá số 45/KL-HĐĐGTS ngày 07/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận:
- 03 đoạn dây cáp điện loại CADI-SUN 0,6/1KW-CU/PVC-CV35; có đặc điểm tương tự nhau, mỗi đoạn dài 8,1m; đường kính lõi đồng 0,8cm; vỏ dây điện màu vàng xanh, thời điểm định giá ngày 27/7/2024, trị giá 2.673.000 đồng.
- 01 đoạn dây cáp điện loại CADI-SUN 0,6/1KW-CU/PVC-CV95 dài 2m; đường kính lõi đồng 1,2 cm; vỏ dây điện màu xanh, thời điểm định giá ngày 27/7/2024, trị giá 560.000 đồng
- 01 chiếc máy bơm nước nhãn hiệu THIÊN LONG HP 2,2KW; Model: TL120, màu sơn bạc, đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 27/7/2024, trị giá 2.500.000 đồng.
Tổng: 5.733.000 đồng.
Qua xác minh của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L tại Công ty Đ3 xác định, Công ty Đ3 đã giao cho Công ty Cổ phần Đ2 thực hiện việc lắp đặt, thi công trạm biến áp số A thuộc khu I, xã C, huyện L. Thời điểm xảy ra vụ trộm cắp tài sản đêm 26/7/2024 công ty Đ3 chưa nghiệm thu, chưa nhận bàn giao công trình trạm biến áp này từ Công ty Cổ phần Đ2.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Văn Đ và Vũ Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, với vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 04/CT-VKSLT ngày 23/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao đã truy tố các bị cáo Vũ Văn Đ và Vũ Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn Đ và Vũ Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt:
Bị cáo Vũ Văn Đ từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Bị cáo Vũ Văn K từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
Trả cho anh Trần Văn L1: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 010562 và 01 xe mô tô biển kiểm soát số 88C1-125.91; trả lại cho bị cáo Vũ Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, phần lưng màu đỏ, không có ốp phía sau, đã qua sử dụng bên trong lắp sim số 0965.943.591.
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại, cán bằng gỗ, tổng chiều dài 37cm, phần cán dài 12cm, phần lưỡi kim loại dài 25cm, đã qua sử dụng; một số đoạn vỏ nhựa bọc dây điện có màu vàng - xanh kích thước khác nhau, có vết cắt dọc sắc gọn còn mới; trên các vỏ nhựa có in các ký tự chữ, xác định gồm: CADI-Sun 0,6/1KW-CU/PVC-CV35 và CADI-Sun 0,6/1KW-CU/PVC-CV95, tổng khối lượng 1,4kg.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 03 đoạn dây kim loại màu vàng đồng, gồm nhiều sợi xoắn lại với nhau, mỗi đoạn dài 8,1m, đường kính 0,8cm không có vỏ bọc, tổng khối lượng 7,5kg + 01 đoạn dây kim loại màu vàng đồng, gồm nhiều sợi xoắn lại với nhau dài 2m, đường kính 1,2cm không có vỏ bọc, tổng khối lượng 2kg.
Xác nhận bị cáo Vũ Văn Đ bồi thường số tiền 1.600.000 đồng và bị cáo Vũ Văn K bồi thường số tiền 1.633.000 đồng cho công ty Cổ phần Đ2. Tổng số tiền 3.233.000 đồng các bị cáo đã nộp tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L; trả cho Công ty Cổ phần Đ2 số tiền các bị cáo bồi thường 3.233.000 đồng.
Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L giao trả cho anh anh Cao Duy V 01 chiếc máy bơm nước nhãn hiệu THIÊN LONG HP 2,2KW; Model: TL120, màu sơn bạc, đã qua sử dụng.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi đúng như Cáo trạng truy tố, các bị cáo không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Về hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Về nội dung:
-
Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều thừa nhận vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 26/7/2024, tại khu I, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ, Vũ Văn Đ và Vũ Văn K đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc máy bơm nước nhãn hiệu THIÊN LONG của anh Cao Duy V, trị giá 2.500.000 đồng; sau đó tiếp tục lén lút chiếm đoạt 04 đoạn dây cáp điện của công ty Cổ phần Đ2 trị giá 3.233.000 đồng. Tổng giá trị tài sản các bị cáo trộm cắp được là 5.733.000 đồng.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai mà các bị cáo khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ pháp lý để kết luận các bị cáo Vũ Văn Đ và Vũ Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
-
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:
Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng nhưng hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong nhân dân, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật; có điều kiện để nhận thức về pháp luật, có sức khỏe nhưng không chịu lao động làm ăn lương thiện và rèn luyện bản thân. Vì vậy vụ án cần phải đưa ra xét xử kịp thời và nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Vụ án có tính đồng phạm giản đơn, Đ và K đều là người thực hành, trong đó vai trò của Đ là người khởi xướng và chỉ điểm nơi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên Đ phải chịu mức hình phạt nặng hơn.
Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra bị cáo Đ đã tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 1.600.000 đồng và bị cáo K đã tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 1.633.000 đồng cho công ty Cổ phần Đ2. Do đó, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: cần phải áp dụng hình phạt tù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo mới đảm bảo tác dụng giáo dục các bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, qua xác minh của Cơ quan điều tra thì hiện nay các bị cáo không có tài sản gì riêng, không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại là anh Cao Duy V đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì thêm; người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần Đ2 là anh Tạ Đức M đã nhất trí nhận bồi thường số tiền 3.233.000 đồng của các bị cáo và không yêu cầu đề nghị bồi thường gì thêm.
-
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 88C1-125.91 là tài sản của anh Trần Văn L1 do bị cáo Đ và K mượn của anh L1, tuy nhiên khi mượn xe các bị cáo không nói là sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 010562 thu giữ của anh Trần Văn L1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho anh L1.
Đối với: 03 đoạn dây kim loại màu vàng đồng, gồm nhiều sợi xoắn lại với nhau, mỗi đoạn dài 8m10, đường kính 0,8cm không có vỏ bọc, tổng khối lượng 7,5kg; 01 đoạn dây kim loại màu vàng đồng, gồm nhiều sợi xoắn lại với nhau dài 2m, đường kính 1,2cm không có vỏ bọc, tổng khối lượng 2kg là tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty Cổ phần Đ2 các bị cáo đã trộm cắp; quá trình giải quyết vụ án, các bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã thống nhất các bị cáo bồi thường bằng tiền cho bị hại; xét thấy vật chứng nêu trên là tài sản do các bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu, sung quỹ nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, phần lưng màu đỏ, không có ốp phía sau, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0965.943.591 đã thu giữ của bị cáo Đ quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành mở niêm phong và kiểm tra chiếc điện thoại xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo Đ.
Đối với 01 con dao bằng kim loại, cán bằng gỗ, tổng chiều dài 37cm, phần cán dài 12cm, phần lưỡi kim loại dài 25cm, đã qua sử dụng là của bà Nguyễn Thị L, bà L xác định con dao không còn giá trị sử dụng, không đề nghị nhận lại nên cần tịch thu, tiêu hủy; đối với một số đoạn vỏ nhựa bọc dây điện có màu vàng - xanh kích thước khác nhau, có vết cắt dọc sắc gọn còn mới; trên các vỏ nhựa có in các ký tự chữ, xác định gồm: CADI-Sun 0,6/1KW-CU/PVC-CV35 và CADI-Sun 0,6/1KW-CU/PVC-CV95, tổng khối lượng 1,4kg đều không còn giá trị, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với anh Trần Văn L1 là người đã cho bị cáo Đ và K mượn xe mô tô; tuy nhiên anh L1 không biết việc các bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Đối với bà Nguyễn Thị L là người đã cho K mượn 01 con dao gọt hoa quả; tuy nhiên, bà L không biết tài sản mà Đ và K mang đến là tài sản do trộm cắp mà có, cũng không biết K mượn dao với mục đích để tách lấy lõi đồng trộm cắp được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L không đề cập xử lý đối với anh L1, bà L là phù hợp.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Các bị cáo, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
-
Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều thừa nhận vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 26/7/2024, tại khu I, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ, Vũ Văn Đ và Vũ Văn K đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc máy bơm nước nhãn hiệu THIÊN LONG của anh Cao Duy V, trị giá 2.500.000 đồng; sau đó tiếp tục lén lút chiếm đoạt 04 đoạn dây cáp điện của công ty Cổ phần Đ2 trị giá 3.233.000 đồng. Tổng giá trị tài sản các bị cáo trộm cắp được là 5.733.000 đồng.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn Đ và Vũ Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt:
Bị cáo Vũ Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Bị cáo Vũ Văn K 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- Trả cho anh Trần Văn L1 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM – Galaxy SR biển kiểm soát số 88C1-125.91 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 010562 do Công an huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 06/05/2014.
- Trả lại cho bị cáo Vũ Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, phần lưng màu đỏ, không có ốp phía sau, đã qua sử dụng bên trong lắp sim số 0965.943.591.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại, cán bằng gỗ, tổng chiều dài 37cm, phần cán dài 12cm, phần lưỡi kim loại dài 25cm, đã qua sử dụng; một số đoạn vỏ nhựa bọc dây điện có màu vàng - xanh kích thước khác nhau, có vết cắt dọc sắc gọn còn mới; trên các vỏ nhựa có in các ký tự chữ, xác định gồm: CADI-Sun 0,6/1KW-CU/PVC-CV35 và CADI-Sun 0,6/1KW-CU/PVC-CV95, tổng khối lượng 1,4kg.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 03 đoạn dây kim loại màu vàng đồng, gồm nhiều sợi xoắn lại với nhau, mỗi đoạn dài 8m10, đường kính 0,8cm không có vỏ bọc, tổng khối lượng 7,5kg và 01 đoạn dây kim loại màu vàng đồng, gồm nhiều sợi xoắn lại với nhau dài 2m, đường kính 1,2cm không có vỏ bọc, tổng khối lượng 2kg.
-
Xác nhận bị cáo Vũ Văn Đ đã nộp số tiền bồi thường 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng) và bị cáo Vũ Văn K đã nộp số tiền bồi thường bồi thường 1.633.000đ (một triệu sáu trăm ba mươi ba nghìn đồng); tổng số tiền 3.233.000đ (ba triệu hai trăm ba mươi ba nghìn đồng) các bị cáo đã nộp được chuyển vào tài khoản tạm giữ của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Thao; trả cho Công ty Cổ phần Đ2 số tiền các bị cáo bồi thường 3.233.000đ (ba triệu hai trăm ba mươi ba nghìn đồng).
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/02/2025 giữa Công an huyện L và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Thao).
- Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L giao trả cho anh anh Cao Duy V 01 chiếc máy bơm nước nhãn hiệu THIÊN LONG HP 2,2KW; Model: TL120, màu sơn bạc, đã qua sử dụng.
Về án phí:
Các bị cáo Vũ Văn Đ và Vũ Văn K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lê Đức Xiêm |
Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 22/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn Đoàn và Vũ Văn Kỳ phạm tội “Trộm cắp tài sản” Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn Đoàn 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Bị cáo Vũ Văn Kỳ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
