Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-ST;
Ngày: 28-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Trang;

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Lê Văn Kiệt.
  • Bà Nguyễn Thị Nhung.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Như Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Việt Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 183/2024/HSST ngày 31 tháng 10 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2024/HSST-QĐ ngày 20/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/HSST-QĐ ngày 17/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/HSST-QĐ ngày 19/02/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Trường G sinh ngày 12 tháng 8 năm 1990, tại tỉnh Long An; Số CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/12; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Đặng Thị N sinh năm 1970; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Mỹ K sinh năm 1994 (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2012.

Tiền sự: Không.

Tiền án: 01 lần. Ngày 26/11/2020, bị cáo Nguyễn Trường G bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số 166/2020/HS-ST), bị cáo chấp hành xong Bản án vào ngày 14/5/2024.

Ngày 10/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M ra quyết định khởi tố bị can và lệnh bắt bị cáo để tạm giam đối với Nguyễn Trường G, tuy nhiên qua xác minh, bị cáo không có mặt ở địa phương, không rõ đi đâu, làm gì nên Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã. Đến ngày 10/8/2024, bị cáo đến Công an xã H, huyện Đ, tỉnh Long An đầu thú và bị tạm giữ, chuyển tạm giam ngày 12/8/2024. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Huỳnh Tấn Phát sinh năm 1993 đã chết;

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Huỳnh Văn G1 sinh năm 1965 (có mặt);
  2. Tăng Kim Y sinh năm 1969 (có mặt);
    Nơi cư trú: số A N, phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
  3. Hà Thị Diễm M sinh năm 1993 (có mặt);
    Nơi cư trú: số A ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Đoàn Văn P sinh năm 1982 (vắng mặt);
    Nơi cư trú: ấp K, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
  2. Phạm Duy K1 sinh năm 1995 (vắng mặt);
    Nơi cư trú: số D ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
  3. Phan Anh Đ sinh năm 1990 (vắng mặt);
    Nơi cư trú: khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
  4. Nguyễn Thanh C sinh năm 1985 (vắng mặt);
  5. Trần Ngọc L sinh năm 1985 (vắng mặt);
    Cùng nơi cư trú: tổ A ấp C, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh
  6. Đỗ Trọng N1 sinh năm 1978 (vắng mặt);
    Nơi cư trú: số C đường C, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
    Chỗ ở hiện tại: ấp H, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.
  7. Ngô Xinh A sinh năm 1987 (vắng mặt);
    Nơi cư trú: P Lô B, KV9, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
    Chỗ ở hiện tại: T T, đường V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

* Người làm chứng:

  1. Lê Thị Ngọc Q sinh năm 1984 (có mặt);
    Nơi cư trú: số A P, phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
  2. Đặng Thị N sinh năm 1970 (vắng mặt);
    Nơi cư trú: ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Trường G có giấy phép lái xe ô tô hạng C đã hết hạn vào năm 2017 nhưng lúc 21 giờ ngày 29/5/2023, bị cáo G đã mượn xe ô tô biển số 51G-187.47 từ Phan Đức A1 (tên thường gọi là Ố) để điều khiển. Lúc 23 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo G điều khiển xe ô tô biển số 51G-187.47 từ huyện Đ, tỉnh Long An đến nhà bạn tên L1 ở Phường B, thành phố M (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) để chơi. Trên đường đi khi đến thị trấn B, tỉnh Long An, bị cáo G dừng xe lại lấy 01 cặp biển số 51K-321.87 gắn chồng lên biển số 51G-187.47 (cặp biển số 51K-321.87 có sẵn trên xe). Đến 02 giờ 50 phút ngày 30/5/2023, bị cáo G điều khiển xe ô tô một mình về lại Long An, khi đang lưu thông trên đường Ấ (làn đường đường hỗn hợp của xe ô tô và xe mô tô) hướng từ cầu B về đường N, đến gần cột đèn số B đường Á thuộc Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang thì bị cáo G ngủ gật không làm chủ được tay lái nên để xe ô tô va chạm vào lề đường bên phải rồi đụng vào xe mô tô biển số 63C1-433.94 do anh Huỳnh Tấn P1 điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước làm anh P1 và xe mô tô té ngã xuống đường. Lúc này bị cáo G tỉnh lại và điều khiển tay lái sang bên trái va chạm vào dãy phân cách cứng trên đường làm xe ô tô bị nổ lốp bánh trước bên trái và bể kính chắn gió phía trước, cửa xe bên trái cũng bị hư hỏng nên xe ô tô dừng lại. Bị cáo G bỏ xe lại và chạy trốn vào một hẻm gần đó điện thoại cho Lê Thị Ngọc Q (tên thường gọi C1) là tài xế tacxi đến chở bị cáo G. Lát sau, chị Q điều khiển xe ô tô 07 chỗ đến rước bị cáo G đi được một đoạn, bị cáo G nói vừa gây tai nạn thì chị Q nói không chở bị cáo G đi được và bị cáo xuống gần cầu R. Bị cáo G đón xe khách về nhà tại Long An. Sau tai nạn, anh Huỳnh Tấn P1 được người dân đưa đi cấp cứu nhưng đến 07 giờ 30 phút cùng ngày thì tử vong tại Bệnh viện C2. Đến 15 giờ ngày 31/5/2023, bị cáo G đến Công an thành phố M đầu thú.

Sau tai nạn, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện có liên quan xác định như sau:

Khám nghiệm hiện trường: Tai nạn xảy ra trên đường Á thuộc Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, mặt đường tráng nhựa đường, gồm 02 phần đường, mỗi phần đường rộng 8,05m, giữa hai phần đường có dãy phân cách cứng, mỗi phần đường gồm 02 làn đường rộng 405cm và 400cm, giữa 02 làn đường có vạch sơn màu trắng đứt nét, đoạn đường thẳng, mặt đường phẳng khô ráo. Phương tiện xe mô tô biển số 63C1-433.94 và xe ô tô biển số 51K-321.87 lưu thông cùng hướng từ cầu Đ về đường N.

Cột đèn điện số 20 xác định là điểm mốc. Lấy mép đường bên phải theo hướng di chuyển của 02 phương tiện làm chuẩn. Vùng va chạm giữa 02 xe trên mặt đường có đường kính 01m, tâm vùng va chạm đo vào mép đường chuẩn là 100cm. Sau tai nạn, xe mô tô biển số 63C1-433.94 ngã trên mặt đường về bên trái, xe ô tô biển số 51K-321.87 dừng trên mặt đường.

Khám phương tiện xe ô tô biển số 51K-321.87: Nứt kính chắn gió phía trước, thụng kim loại nắp capô, nứt nhựa trước đầu xe, miếng nhựa gắn biển số trên cản trước bể rời khỏi cản, bể cụm đèn trước bên trái, bể nhựa cản trước bên trái, thụng kim loại cạnh nắp capô bên trái, thụng kim loại ốp chắn bùn bánh xe trước bên trái, chắn bùn rời khỏi xe, vành mâm bánh xe trước bên trái trượt hằng kim loại nham nhở, lốp và săm bánh xe trước bên trái mất hơi, trầy xướt cao su nhăm nhở, bung cản sau bên trái, biển số 51K-321.87 gắn bên ngoài phía sau bên trong gắn biển số 51G-187.47.

Khám phương tiện: Xe mô tô biển số 63C1-433.94: Mài mòn kim loại đầu tay lái bên trái, nhựa dè chắn bùn bánh xe trước, kim loại và cao su gát chân trước bên trái, tay dắt sau yên bên trái; dè chắn bùn bánh xe sau cong từ sau về trước, bể nhựa cụm đèn phía sau, bóng đèn báo hãm phanh bể, mảnh nhựa phía sau xe bể rời khỏi thân xe, yên xe rời khỏi thân xe.

Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của bị cáo Nguyễn Trường G ngày 31/5/2023 là âm tính, kết quả xét nghiệm ma túy là dương tính với chất AMP. Căn cứ Công văn số 123/BV-KHTH ngày 11/11/2024 của Bệnh viện Q1 xác định AMP là tên viết tắc của A2 là một dạng chất ma túy có tác dụng gây kích thích thần kinh, tăng cường sức chịu đựng, tăng cảm giác hưng phấn, nếu sử dụng quá liều sẽ gây nghiện...

Kết luận giám định pháp y về tử thi số 176-2023/KLGĐTT-TTPY ngày 30/5/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận: Nguyên nhân tử vong của Huỳnh Tấn P1 là chấn thương sọ não kín do xuất huyết dưới màng cứng, dưới nhện toàn bộ hai bán cầu đại não, xuất huyết thân não, xuất huyết hai bán cầu tiểu não, dập não, phù não, vỡ vòm sọ, sàng sọ do tai nạn giao thông. Nồng độ cồn trong máu của Huỳnh Tấn P1 là 11,2mg/dL.

Tại Cáo trạng số 169/CT-VKSMT ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đã truy tố bị cáo Nguyễn Trường G về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho vẫn giữ nguyên quan điểm về tội danh và khung hình phạt như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, điểm a, b, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về vật chứng: Đề nghị trả cho ông Đoàn Văn P 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA màu bạc biển số 51G-187.47; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô biển số 51G-187.47 mang tên Nguyễn Thanh C và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 51G-187.47.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 biển số 51K-321.87.

Đề nghị ghi nhận Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô biển số 63C1-433.94, giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 63C1-433.94 cho gia đình bị hại.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận trong quá trình điều tra, bị cáo G đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại chi phí đám tang, xe cấp cứu với tổng số tiền là 73.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo Nguyễn Trường G và chủ xe có nghĩa vụ liên đới bồi thường tổn thất tinh thần với số tiền là 234.000.000 đồng, không yêu cầu gì khác. Ngoài ra, gia đình bị hại yêu cầu bị cáo Nguyễn Trường G cấp dưỡng nuôi cháu Huỳnh Tấn T1 (con bị hại) sinh ngày 13/02/2014 mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), thời gian thực hiện cấp dưỡng bắt đầu từ khi Bản án có hiệu lực pháp lực cho đến khi cháu Huỳnh Tấn T1 tròn 18 tuổi. Về phía bị cáo Nguyễn Trường G đồng ý bồi thường tổn thất tinh thần cho đại diện hợp pháp của bị hại với số tiền là 234.000.000 đồng. Bị cáo G yêu cầu sau khi cáo chấp án phạt tù hành xong, bị cáo sẽ bồi thường trước cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 50.000.000 đồng, số tiền còn lại mỗi tháng bị cáo sẽ bồi thường từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng tùy theo khả năng. Bị cáo G đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu T1 mỗi tháng 2.000.000 đồng nhưng hiện tại bị cáo không có khả năng thực hiện ngay.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu của đại diện hợp pháp của bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Nguyễn Trường G có nghĩa bồi thường tổn tinh thần cho đại diện hợp pháp của bị hại và với số tiền là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) và đề nghị buộc bị cáo G có nghĩa vụ cấp vụ nuôi cháu T1 mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

Phát biểu tự bào chữa của bị cáo Nguyễn Trường G: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không có khiếu nại hay có ý kiến gì về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

  2. [2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và trong quá trình điều tra, những người tham gia tố tụng nêu trên đã có lời khai cụ thể, đầy đủ, rõ ràng. Xét thấy sự vắng mặt của họ không gây khó khăn cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 và Điều 299 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo thủ tục chung.

  3. [3] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trường G đã khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Lúc 02 giờ 50 phút ngày 30/5/2023, bị cáo Nguyễn Trường G không có giấy phép lái xe và có sử dụng ma túy nhưng điều khiển xe ô tô biển số 51G-187.47 từ trên đường Á thuộc Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Khi điều khiển xe ô tô biển số 51G-187.47 từ trên đường Ấ thuộc Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, bị cáo G đã ngủ gật thiếu chú ý quan sát, không làm chủ được tay lái, không giữ khoảng cách an toàn với xe phía trước dẫn đến tai nạn làm thiệt hại tính mạng cho anh Huỳnh Tấn P1 và sau khi gây tai nạn, bị cáo G đã bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm, cố ý không cứu giúp nạn nhân. Hành vi của bị cáo Nguyễn Trường G vi phạm khoản 7, 9 và 17 Điều 8, và khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ. Tại khoản 7, 9 và 17 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ quy định các hành vi bị nghiêm cấm: “7. Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy.

    9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.

    17. Bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm.

    Tại khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ quy định: “Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ...”.

    Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Trường G đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    Tại khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

    • Không có giấy phép lái xe theo quy định;
    • Trong tình trạng có sử dụng ....chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác"
    • Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;”.

    Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đã đưa ra chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo Nguyễn Trường G về tội phạm nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật. Hành vi của bị cáo G là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ và xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác. Khi thực hiện hành vi trên, bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng do lỗi chủ quan, không tuân thủ quy định của Luật Giao thông đường bộ. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm nhằm giáo dục và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

  4. [4] Đối với Đoàn Văn P khai về việc cho Lê Tuấn A3 thuê xe từ ngày 27/3/2023 đến ngày 27/9/2023 (có làm hợp đồng) nhưng thực tế Lê Tuấn A3 chỉ thuê xe được một tháng đến ngày 27/9/2023 thì trả xe lại cho anh P. Sau đó, anh P tiếp tục cho Phạm Duy K1 thuê lại xe (không làm hợp đồng). Khoảng 06 giờ ngày 30/5/2023, K1 gọi điện thông báo vụ tai nạn cho P biết. Sau đó P gặp Lê Tuấn A3, Phạm Duy K1 và Phan Đức A1 (Ố) thì Đức A1 nói bị cáo Nguyễn Trường G là người gây tai nạn. K1 nói với P là K1 cho Đức A1 thuê lại xe vào ngày 15/5/2023, khi cho thuê thì trên xe không có biển số khác. Về phía Phạm Duy K1 khai: K1 biết anh Đoàn Văn P, K1 không thừa nhận đã thuê xe của anh P để cho G mượn nhưng K1 có nghe bị cáo G nói là bị cáo G đã điều khiển xe ô tô gây tai nạn giao thông ở thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh, xe ô tô biển số 51G1-187.47, nhãn hiệu TOYOTA theo Giấy đăng ký xe ô tô số 378365 do Phòng C3, Công an thành phố H cấp ngày 19/6/2018 cho Nguyễn Thanh C. Ngày 10/7/2018, Nguyễn Thanh C cùng vợ và là Trần Ngọc L đã ký hợp đồng ủy quyền cho Ngô Xinh A. Theo thỏa thuận trong hợp đồng ủy quyền ngày 10/7/2018, Ngô Xinh A được “toàn quyền cho thuê, cho mượn (thanh lý hợp đồng cho thuê, cho mượn), bán, tặng cho, thế chấp, giải trừ thế chấp đối với xe biển số 51G1-187.47” (hợp đồng ủy quyền được công chứng tại Văn phòng công chứng Tân Quy huyện C, thành phố Hồ Chí Minh). Đến ngày 25/10/2022, Ngô Xinh A ký hợp đồng ủy quyền lại cho Đoàn Văn P tại Văn phòng C4, quận C, thành phố Cần Thơ. Ngô Xinh A và Đoàn Văn P cùng thống nhất thừa nhận thực tế ông P đã mua xe ô tô trên từ Ngô Xinh A nhưng ký hợp đồng ủy quyền. Ông Đoàn Văn P là người chiếm hữu đối với xe ô tô xe ô tô trên nhưng không chứng minh được hành vi “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

  5. [5] Qua xác minh nhiều lần thì Phan Đức A1 không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì địa phương không rõ nên hiện tại chưa làm việc được Đức A1 để làm rõ có phải Đức A1 là người cho bị cáo G mượn xe hay không và khi cho bị cáo G mượn xe có biết giấy phép lái xe của G đã hết hạn hay không để xem xét có hay không hành vi “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”, sẽ tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

  6. [6] Về nhân thân của bị cáo Nguyễn Trường G: Bị cáo không có tiền sự, có một tiền án.

  7. [7] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trường G thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Bị cáo đã bồi thường một phần trách nhiệm dân sự cho gia đình bị hại nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tính tiết giảm nhẹ do bị cáo “đầu thú” theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử nhận định, sau khi xảy ra tai nạn đến ngày 31/3/5/2023 bị cáo G đến Công an thành phố M “đầu thú” nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M ra quyết định khởi tố, bị cáo G đã bỏ trốn, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ “đầu thú” theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tình tiết tăng nặng: Bị cáo G có một tiền án, bị cáo vô ý phạm tội rất nghiêm trọng nên bị áp tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  8. [8] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo G đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại chi phí đám tang, xe cấp cứu với tổng số tiền là 73.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

    Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo G và chủ xe ô tô có nghĩa vụ liên đới bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 234.000.000. Bị cáo G đồng ý bồi thường tổn thất tinh thần cho đại diện hợp pháp của bị hại với số tiền là 234.000.000 đồng nhưng bị cáo yêu cầu sau khi chấp hành án phạt tù xong sẽ bồi thường 50.000.000 đồng, số tiền còn lại xin thì trả dần không được đại diện hợp pháp của bị hại đồng ý. Xét yêu cầu của những người đại diện hợp pháp của bị hại, Hội đồng xét xử xét thấy ông Đoàn Văn P được quyền sử dụng, định đoạt quyền sở hữu đối với ô tô biển số 51K-321.87. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, ông Đoàn Văn P là người chiếm hữu đối với xe ô tô nêu trên nhưng ông P không chứng minh được đã giao xe ô tô cho người nào, cụ thể là ông P không chứng minh được đã cho ai thuê xe. Do đó, ông P có một phần lỗi khi để bị cáo G là người không có giấy phép lái xe theo quy định sử dụng gây thiệt. Căn cứ Điều 585, Điều 590, Điều 591 và Điều 593 Bộ luật Dân sự năm 2015 và điểm b khoản 5 Điều 12 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, ông có nghĩa vụ liên đới cùng với bị cáo G bồi thường cho những người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 234.000.000 đồng (hai trăm ba mươi bốn triệu đồng).

    Đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo Nguyễn Trường G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của bị hại Huỳnh Tấn P1 tên là Huỳnh Tấn T1 sinh ngày 13/02/2014 mỗi tháng là 2.000.000 đồng. Thời gian thực hiện cấp dưỡng bắt đầu khi Bản án có hiệu lực cho đến khi cháu Huỳnh Tấn T1 sinh ngày 13/02/2014 đủ 18 tuổi. Căn cứ khoản 2 Điều 593 Bộ luật Dân sự 2015, bị cáo G có nghĩa vụ cấp dưỡng cho Huỳnh Tấn T1 sinh ngày 13/02/2014 mỗi tháng là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Thời gian thực hiện cấp dưỡng bắt đầu từ khi bản án có hiệu lực pháp lực cho đến khi cháu Huỳnh Tấn T1 sinh ngày 13/02/2014 đủ 18 tuổi.

  9. [9] Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô biển số 63C1-433.94, giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 63C1-433.94 cho gia đình bị hại. Căn cứ Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, việc xử lý vật chứng nêu trên là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

    Đối với 02 biển số 51K-321.87 qua xác minh do Phạm Thị H sinh năm 1990, địa chỉ tại số E đường H, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên đăng ký và vẫn còn sở hữu. Do đó cần tịch thu tiêu hủy đối với 02 biển số 51K-321.87.

    Đối với xe ô tô hiệu TOYOTA, màu bạc, phía sau có gắn biển kiểm soát 51G-187.47. Tình trạng khi tiếp nhận: dàn mũ khung xe phía trước bị bể nát, hư hỏng nạng, biển kiểm soát 51G-187.47, phía trước đã bị tháo rời khỏi khung xe, kính xe bị bể, răng nứt; có số máy: 2NRX330402, số khung: 9F3XJ504211, không kiểm tra tình trạng bên trong cũng như chất lượng xe ô tô trên; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô biển số 51G-187.47 mang tên Nguyễn Thanh C và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 51G-187.47 cần tiếp tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

  10. [10] Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về mức hình phạt là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.

  11. [11] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trường G phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Căn cứ điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và điểm a,b, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 10 tháng 8 năm 2024.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 585, Điều 590, Điều 591 và Điều 593 Bô luật Dân sự năm 2015 và điểm b khoản 5 Điều 12 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

    Buộc ông Đoàn Văn P và bị cáo Nguyễn Trường G có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại gồm Huỳnh Văn G1, Tăng Kim Y và Hà Thị Diễm M số tiền 234.000.000 đồng (hai trăm ba mươi bốn triệu đồng).

    Bị cáo Nguyễn Trường G có nghĩa vụ cấp dưỡng cho Huỳnh Tấn T1 sinh ngày 13/02/2014 mỗi tháng là 2.00.000 đồng (hai triệu đồng). Thời gian thực hiện cấp dưỡng bắt đầu khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Huỳnh Tấn T1 sinh ngày 13/02/2014 tròn 18 tuổi.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án không trả số tiền nêu trên thì còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) biển số 51K-321.87 cần tích thu tiêu hủy.

    Tiếp tục tạm giữ xe ô tô hiệu TOYOTA, màu bạc, phía sau có gắn biển kiểm soát 51G-187.47. Tình trạng khi tiếp nhận: dàn mũ khung xe phía trước bị bể nát, hư hỏng nạng, biển kiểm soát 51G-187.47, phía trước đã bị tháo rời khỏi khung xe, kính xe bị bể, răng nứt; có số máy: 2NRX330402, số khung: 9F3XJ504211, không kiểm tra tình trạng bên trong cũng như chất lượng xe ô tô trên; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô biển số 51G-187.47 mang tên Nguyễn Thanh C và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 51G-187.47 để đảm bảo thi hành án.

    Hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đang giữ toàn bộ các vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/11/2024.

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Trường G phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng.

Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Ký tên)
MAI THỊ MỸ TRANG
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (criminal case)

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger