TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh P2 |
Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27/02/2025
V/v“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa Pên tòa: Bà Phạm Huỳnh Tường Viên
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hoa
Ông Nguyễn Trung H
Thư ký Pên tòa: Bà Trương Thị Thẩm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tham gia Pên tòa:
Ông Trần Thanh Sơn – Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 717/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn Pên tòa số 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hạnh H – Sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Có mặt tại Pên tòa.
- Bị đơn: Ông Trần Lương H – Sinh năm 1990
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại Pên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại Pên tòa, nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Hạnh H trình bày:
Bà và ông Trần Lương H tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2014 tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã N. Quá trình chung sống hạnh P2 thời gian đầu từ năm 2023 thì vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do ông H có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác; chơi cờ bạc gây nợ nần và không quan tâm gia đình nên vợ chồng bất đồng quan điểm sống hay kình cãi nhau. Từ tháng 09/2024, bà và ông H đã không còn chung sống với nhau. Nay không còn tình cảm nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Trần Lương H.
Về con chung: Bà và ông H có 03 con chung tên Trần Hoàng P, sinh ngày 12/5/2014; Trần Hoàng P2, sinh ngày 02/02/2016 và Trần Hoàng P3, sinh ngày 28/8/2019. Bà yêu cầu nuôi ba con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn – ông Trần Lương H được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không lấy được lời trình bày.
* Tại Pên tòa, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa trình bày quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại Pên tòa là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: nguyên đơn yêu cầu ly hôn là có cơ sở vì tình cảm không còn, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Về con chung: bà H và ông H có 03 con chung tên Trần Hoàng P, sinh ngày 12/5/2014; Trần Hoàng P2, sinh ngày 02/02/2016 và Trần Hoàng P3, sinh ngày 28/8/2019. Xét cháu P và cháu P2 có nguyện vọng được ở với mẹ và cháu P3 còn nhỏ, hiện cả 03 cháu đều đang được bà H nuôi dưỡng nên đề nghị chấp nhận yêu cầu giao ba con chung cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: bà H phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại Pên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại Pên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã nhiều lần triệu tập lấy lời khai, thông báo về Pên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đồng thời tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn Pên tòa nhưng ông Trần Lương H đều vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về thẩm quyền giải quyết:
Ông Trần Lương H có hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố H, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Do đó Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ tranh chấp: Bà H yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung với ông H nên Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Về nội dung vụ án:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hạnh H và ông Trần Lương H tự nguyện chung sống, kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường N, thị xã N cấp giấy chứng nhận kết hôn số 11/2014, cấp ngày 06 tháng 3 năm 2014. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Hạnh H và ông Trần Lương H là hợp pháp.
Theo lời trình bày của nguyên đơn thì sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu nhưng về sau nảy sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do ông H có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, chơi cờ bạc gây nợ nần và không quan tâm gia đình nên vợ chồng đã không còn quan tâm, chung sống với nhau nữa là phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương. Ông Trần Lương H đã được triệu tập đến tòa để thực hiện quyền, nghĩa vụ nhưng không có mặt là tự từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Xét thấy cuộc sống vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau nhưng cuộc sống chung giữa bà H và ông H không hạnh phúc, tình trạng hôn nhân lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[4.2] Về con chung: Bà H và ông H có 03 con chung tên Trần Hoàng P, sinh ngày 12/5/2014; Trần Hoàng P2, sinh ngày 02/02/2016 và Trần Hoàng P3, sinh ngày 28/8/2019. Bà H yêu cầu được nuôi ba con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng. Xét thấy, cháu P, cháu P2 có nguyện vọng được ở với mẹ và cháu P3 còn nhỏ, hiện cả 03 cháu đều đang được bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông H đã được triệu tập nhưng không có mặt tại Tòa án để thực hiện quyền yêu cầu về việc nuôi con chung.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy: việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn là quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và để đảm bảo cho các cháu có đủ điều kiện phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội nên cần căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình giao 03 con chung tên Trần Hoàng P, sinh ngày 12/5/2014; Trần Hoàng P2, sinh ngày 02/02/2016 và Trần Hoàng P3, sinh ngày 28/8/2019 cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp.
Sau khi ly hôn, ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại Pên tòa là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, vị đại diện Viện kiểm sát có quan điểm cho rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn và tranh chấp con chung là có cơ sở chấp nhận và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Quan điểm nói trên của vị đại diện Viện kiểm sát về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên của Tòa án nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hạnh H phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết án phí, lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 264, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hạnh H được ly hôn với ông Trần Lương H.
- Về con chung: Giao ba con chung tên Trần Hoàng P, sinh ngày 12/5/2014; Trần Hoàng P2, sinh ngày 02/02/2016 và Trần Hoàng P3, sinh ngày 28/8/2019 cho bà Nguyễn Thị Hạnh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Bà H không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung. Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Hạnh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hạnh H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006457 ngày 19/11/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Ninh Hòa. Bà H đã nộp đủ án P hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại Pên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thị xã N; - THADS thị xã N; - UBND phường N, thị xã N; (GCNKH số 11/2014 ngày 06/3/2014); - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PÊN TÒA Phạm Huỳnh Tường Viên |
Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHAP NHAN YEU CAU
