|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27-02-2025.
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Mẫn.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Công Bằng
- Bà Trương Ngọc Điệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành A.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tưởng – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành A xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 210/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐST-HN ngày 13 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Văn Thị Như Ý, sinh năm 2001
Địa chỉ: ấp C, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt
- Bị đơn: Anh Đào Thanh V, sinh năm 1986
Địa chỉ: ấp C, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn chị Văn Thị Như Ý trình bày: Chị và anh Đào Thanh Vũ tự quen biết, sau một thời gian tìm hiểu thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang vào ngày 30/8/2019. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cải, chị và anh V đã sống ly thân từ tháng 9/2024 cho đến nay. Chị nhận thấy cuộc sống hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đào Thanh V.
Về con chung: Thời gian chung sống, chị và anh V có 02 con chung tên Đào Gia B, giới tính: Nam, sinh ngày 16/9/2021 và Đào K, giới tính: Nữ, sinh ngày 05/10/2017, hiện các con đang sống cùng với chị từ lúc ly thân đến nay. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Đào Thanh V quá trình tố tụng đã được Toà án Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng không đến toà nên chưa thể hiện ý kiến.
Tại phiên toà: Chị Văn Thị Như Ý có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Anh Đào Thanh V tiếp tục vắng mặt nên không thể phát biểu yêu cầu nào mới.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phát biểu:
- Về tố tụng: Việc thu thập chứng cứ từ khi thụ lý vụ án của Thẩm phán, mở và điều khiển phiên toà của Hội đồng xét xử tại phiên toà là tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật, bị đơn vắng mặt là chưa chấp hành theo quy định.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Tuyên xử chấp nhận cho chị Văn Thị Như Ý được ly hôn với anh Đào Thanh V. Giao các con chung cho chị Văn Thị Như Ý được tiếp tục nuôi dưỡng, anh V chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Án phí hôn nhân gia đình buộc chị Ý phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, Toà xác định mối quan hệ pháp luật tranh chấp cần phải giải quyết trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn trong vụ án là anh Đào Thanh V, hiện tại có nơi cư trú tại ấp C, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Châu Thành A.
[3] Về xét xử vắng mặt: anh Đào Thanh V là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt.
Về nội dung tranh chấp:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Văn Thị Như Ý và anh Đào Thanh V chung sống với nhau có tổ chức lễ cưới và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang theo quy định nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Chị Ý yêu cầu ly hôn vì cho rằng chị và anh V chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường hay cự cải dẫn đến mất hạnh phúc, T đã mở phiên hòa giải để tạo điều kiện cho anh, chị được đoàn tụ nhưng anh V không tham dự. Xét quan hệ hôn nhân phải dựa trên nền tảng thương yêu, tôn trọng, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau tạo lập gia đình hạnh phúc nhưng chị Ý và anh V chung sống phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân từ tháng 9/2024 cho đến nay lại không tạo điều kiện hàn gắn thể hiện mâu thuẫn đã trầm trọng, chị Ý kiên quyết yêu cầu được ly hôn, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Văn Thị Như Ý được ly hôn với anh Đào Thanh V.
[2]. Về con chung: Chị Ý và anh V sống với nhau có 02 con chung tên Đào Gia B, giới tính: Nam, sinh ngày 16/9/2021 và Đào K, giới tính: Nữ, sinh ngày 05/10/2017, hiện tại các cháu đang sống chung với chị Ý. Anh V biết chị Ý yêu cầu ly hôn và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng vẫn không thể hiện ý kiến gì về việc nuôi con. Xét thấy cháu Đ Kim Ngân hiện tại đã trên 7 tuổi, theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình thì việc giao cháu cho ai được trực tiếp nuôi dưỡng phải xem xét nguyện vọng của cháu và tại Biên bản lấy lời khai của cháu N, thể hiện nếu cha mẹ không sống chung nữa thì cháu có nguyện vọng được sống với mẹ; Đối với cháu Đào Gia B đang sống chung với chị Ý, trong thời gian chị Ý và anh V sống ly thân anh V không thường tới lui thăm nom, chăm sóc con chung, qua đó thể hiện sự thiếu trách nhiệm của anh V đối với con. Vì vậy, để không làm xáo trộn, ảnh hưởng đến tâm lý của các cháu, Hội đồng xét xử giao các cháu cho chị Ý được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đào Thanh V chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị Văn Thị Như Ý không yêu cầu.
[3]. Về tài sản chung: Không có nên không giải quyết.
[4]. Về nợ chung: Không có nên không giải quyết
[5]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Văn Thị Như Ý phải chịu theo quy định.
[6]. Về phát biểu đề nghị Kiểm sát viên tại phiên toà. Xét, phát biểu về thủ tục tố tụng và đề nghị về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định, Toà chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 150, Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí kèm theo.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Văn Thị Như Ý được ly hôn với anh Đào Thanh V.
- Về con chung: Giao các con chung tên Đào Gia B, giới tính: Nam, sinh ngày 16/9/2021 và Đào K, giới tính: Nữ, sinh ngày 05/10/2017 cho chị Văn Thị Như Ý được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đào Thanh V chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị Ý không yêu cầu.
Anh Đào Thanh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở.
- Về tài sản chung: Không có nên không giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nên không giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Văn Thị Như Ý phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Chuyển 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí chị Ý đã nộp theo biên lai thu số 0004876 ngày 13/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành án phí. Chị Ý không phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Mẫn |
Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận cho ly hôn
