TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25/02/2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Minh.
Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Phương.
Ông Nguyễn Văn Kỹ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 26/2024/TLST-HNGĐ ngày 29/10/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24/01/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1994. HKTT: Thôn N, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại Đài Loan (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1991. HKTT: Thôn N, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt).
Nguyên đơn Chị Nguyễn Thị M trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn T và đăng ký kết hôn ngày 16/02/2012 tại UBND xã N, huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng nhau tại thôn N, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn; năm 2015 chị đi Đài L xuất khẩu lao động, kể từ đó mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, anh T không chăm chỉ làm ăn mà chơi bời lêu lổng. Mặc dù hai bên đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không thể cứu vãn. Nay chị M thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không hạnh phúc và không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được nữa. Vì vậy, chị đề nghị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Quốc A, sinh ngày 21/01/2013 và cháu Nguyễn Quốc V, sinh ngày 13/4/2015, hiện 02 cháu đều đang ở với anh T. Khi ly hôn, chị đề nghị giao 02 con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng/01 cháu.
Tài sản chung, công nợ: Không có.
Hiện nay, do công việc bận Chị M xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án thông báo, triệu tập và làm việc với người thân của anh T nhiều lần, nhưng anh T không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án.
Tòa án đã tiến hành làm việc với bà Ứng Thị T1 là mẹ đẻ của anh T, bà T1 trình bày: Bà là mẹ đẻ của Nguyễn Văn T. Năm 2012, bà có tổ chức đám cưới cho con trai bà cưới vợ là Nguyễn Thị M. Quá trình chung sống vợ chồng M và cháu T có 02 con chung là cháu Nguyễn Quốc A, sinh ngày 21/01/2013 và cháu Nguyễn Quốc V, sinh ngày 13/4/2015, hai cháu Quốc A và Quốc V đều đang ở với bà và con trai bà. Con trai bà hiện đang ở với bà tại thôn N, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, hiện nay đang làm việc ở Hải Phòng, cháu T vẫn về nhà và ngày nào cũng gọi điện về cho tôi để hỏi thăm con cái.
Bà đã nhận được thông báo thụ lý của Tòa án và giấy triệu tập cháu T lên làm việc, bà có gọi điện bảo cháu T thì có có nhắn lại là: “Cháu T đồng ý ly hôn với cháu M, về con chung thì cháu T xin nuôi 02 con chung và yêu cầu chị M cấp dưỡng theo quy định. Về tài sản chung, công nợ: Không có. Cháu T đề nghị giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho bà nhận thay các văn bản, giấy tờ của Tòa án".
Nay liên quan đến việc cháu M xin ly hôn cháu T thì bà đồng ý nhận ủy quyền của con trai bà, bà sẽ nhận thay các văn bản, giấy tờ Tòa án gửi cho con trai bà và bà cam kết sẽ thông báo và giao lại các văn bản, giấy tờ trên cho cháu T ngay trong ngày nhận được.
Tại phiên toà nguyên đơn là chị M vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị M, xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con chung: đề nghị giao cháu Nguyễn Quốc A, sinh ngày 21/01/2013 và cháu Nguyễn Quốc V, sinh ngày 13/4/2015 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng: Chị M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền là 2.000.000 đồng/tháng/01 cháu. Về tài sản chung, công nợ: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn, chị Nguyễn Thị M đề nghị Tòa án xem xét cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T và đề nghị giao 02 con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng/01 cháu. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị M hiện đang ở Đài Loan trình bày bị đơn là anh Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Văn T trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập, gửi các văn bản tố tụng qua mẹ đẻ là bà Ứng Thị T1 nhưng anh T đều không gửi văn bản cho Tòa án, chỉ truyền đạt lại quan điểm giải quyết thông qua mẹ đẻ là bà Ứng Thị T1. Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh T có đủ điều kiện kết hôn, khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp cần được xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Sau khi kết hôn, theo Chị M trình bày thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn; năm 2015 chị đi Đài L xuất khẩu lao động, kể từ đó mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, anh T không chăm chỉ làm ăn mà chơi bời lêu lổng. Mặc dù hai bên đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không thể cứu vãn. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng Chị M và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị M là có căn cứ, cần chấp nhận, xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
[2.2]. Về con chung: Chị M và anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Quốc A, sinh ngày 21/01/2013 và cháu Nguyễn Quốc V, sinh ngày 13/4/2015, hiện 02 cháu đều đang ở với anh T, 02 cháu đều có nguyện vọng được ở với bố. Mặt khác hiện nay chị M vẫn ở nước ngoài và có đề nghị giao 02 con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Do vậy để đảm bảo sự phát triển ổn định, tránh những xáo trộn không cần thiết, cần giao 02 con chung là cháu Quốc A và Quốc V cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T truyền đạt quan điểm là đề nghị chị M cấp dưỡng theo quy định của pháp luật, chị M tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 2.000.000 đồng/tháng, xét thấy mức cấp dưỡng chị M đưa ra là phù hợp, cần chấp nhận.
Về tài sản chung, công nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị M.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quốc A, sinh ngày 21/01/2013 và cháu Nguyễn Quốc V, sinh ngày 13/4/2015 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Chị M có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 2.000.000 đồng/tháng/01 cháu, thời điểm cấp dưỡng từ ngày 25/8/2025 đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Xác nhận chị M đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000272 ngày 29/10/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Minh |
Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn T
