Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22 /2025/HS-ST

Ngày 25-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Anh

Bà Nguyễn Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hoàng Anh– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa: ông Đặng Hồng Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 23 tháng 8 năm 2000 tại thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: khối A, phường, Hà Huy T1, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Nguyễn Viết S, sinh năm 1968; Con bà: Trần Thị H, sinh năm 1970; Chồng, con: không có.Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân:Ngày 09/4/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, theo Bản án số 112/2019/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/01/2020

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/9/2024 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Trần Đức T2, sinh năm 2000; nơi cư trú: xóm T, xã N, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
  • + Anh Trần Anh T3, sinh năm 1986; Nơi cư trú: xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 24 tháng 9 năm 2024, Trần Đức T2 đi đến phòng 217 khách sạn B thuộc xóm F, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An để ở với người yêu là Nguyễn Thị T (Phòng 217 do Nguyễn Thị T thuê từ tháng 10/2023 với mục đích để lưu trú). Khi vào phòng, T2 lấy trong túi áo khoác màu đen mà T2 đang mặc ra 01 (Một) gói nilon màu trắng, T2 mở ra thì bên trong có chứa các gói nilon màu trắng trong suốt, bên trong có chứa ma tuý Ketamine và K. Sau đó, T2 vứt gói nilon bên ngoài rồi bỏ các gói ma tuý đó vào túi áo khoác phía trước bên trái, đồng thời T2 nói với T “Cất ở đây nha” và T2 treo áo khoác vào trong tủ quần áo. Lúc này, T không nói gì và đồng ý cho T2 cất ma tuý ở vị trí này với mục đích được T2 cho ma túy để sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 05 phút ngày 27 tháng 9 năm 2024, khi Nguyễn Thị T đang ở trong phòng 217 khách sạn B thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Nghệ An tiến hành khám xét khẩn cấp

Vật chứng thu giữ gồm: 07 (Bảy) viên ma túy (MDMA) có tổng khối lượng là 2,50 gam (Hai phẩy năm mươi gam), 02 (Hai) gói ma túy (Ketamine) có tổng khối lượng là 19,89 gam (Mười chín phẩy tám mươi chín gam)

01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu đen, đã qua sử dụng, số Imei1: 357853680463115, số Imei2: 357853680463467, thu giữ của Nguyễn Thị T;

01 (Một) chiếc cân tiểu ly màu đen, xám, không có nhãn hiệu thu giữ tại phòng 217, khách sạn B;

01 (Một) chiếc áo khoác màu đen thu giữ tại tủ quần áo phòng 217, khách sạn B được niêm phong vào 01 (Một) thùng cát tông;

Tại Bản kết luận giám định số 904/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 14/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:

  • + Các mẫu vật (ký hiệu M21, M22) thu giữ khi khám xét địa điểm phòng 217, khách sạn B gửi đến giám định đều là ma túy; loại Ketamine.
  • + Các hạt tinh thể màu trắng thu giữ khi khám xét địa điểm phòng 217, khách sạn B có tổng khối lượng là 19,89 gam (Mười chín phẩy tám mươi chín gam).
  • + Các mẫu vật (ký hiệu M23 đến M26) thu giữ khi khám xét địa điểm phòng 217, khách sạn B gửi đến giám định đều là ma túy, loại MDMA.
  • + Các viên nén màu xám thu giữ khi khám xét địa điểm phòng 217, khách sạn B có tổng khối lượng là 2,50 gam (Hai phẩy năm mươi gam)

Căn cứ Nghị định Số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015, xác định: Nguyễn Thị T đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,5 gam ma túy (MDMA) và 19,89 gam ma túy (Ketamine) với tỷ lệ: 50% (2,5 gam so với 5 gam) + 99,45% (19,89 gam so với 20 gam) = 149,45% (thuộc trường hợp trên 100%) và tỷ lệ 8,33% (2,5 gam so với 30 gam) + 19,89% (19,89 gam so với 100 gam) = 28,22 % (thuộc trường hợp dưới 100%) được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKS-DC ngày 17/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: giữ nguyên việc truy tố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 06 năm đến 06 năm 6 tháng tù

Về hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

V xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng

Tịch thu và tiêu hủy: 16,72 gam (Mười sáu phẩy bảy mươi hai gam) ma túy (Ketamine); 1,18 gam (Một phẩy mười tám gam) các viên ma túy (MDMA) và các vỏ bao bì ban đầu được niêm phong vào 01 (Một) phong bì thư; 01 (Một) chiếc áo khoác màu đen thu giữ tại tủ quần áo phòng 217, khách sạn B được niêm phong vào 01 (Một) thùng cát tông

Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước: 01 (Một) chiếc cân tiểu ly màu đen, xám, không có nhãn hiệu thu giữ tại phòng 217, khách sạn B

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T 01(một) điện thoại di động nhãn hiệuIphone 14 Pro Max, màu đen, đã qua sử dụng, số Imeil: 357853680463115, số Imei2: 357853680463467, thu giữ của Nguyễn Thị T;

Bị cáo phải chịu án phí theo luật định. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Trần Đức T2, Trần Anh T3 vắng mặt, tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của anh T2, anh T3 không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do vậy căn cứ vào các Điều 292, Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị T khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố; lời khai của bị cáo phù hợp các chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận vào khoảng 22 giờ 05 phút ngày 27/9/2024, tại phòng 217 khách sạn B thuộc xóm F, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nguyễn Thị T là người thuê và quản lý phòng ở trên nhưng vẫn đồng ý cho người khác cất giấu 19,89 gam (Mười chín phẩy tám mươi chín gam) ma túy Ketamine và 2,50 gam (Hai phẩy năm mươi gam) ma túy MDMA. Tại thời điểm thực hiện hành vi bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu để xác định tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo.

[4]. Xét tính chất,vai trò, nhân thân của bị cáo:

Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến hoạt động quản lý Nhà nước về phòng chống ma túy, xâm phạm trật tự trị an, an toàn xã hội. Ma túy đã và đang trở thành hiểm hoạ lớn của nhân loại; trở thành vấn đề nhức nhối trong đời sống cộng đồng. Ma túy đã hủy hoại đời sống con người, làm suy thoái nòi giống, làm xói mòn các giá trị văn hóa gia đình, đạo đức xã hội và là nguồn gốc, nguyên nhân, tiềm tàng phát sinh nhiều loại tội phạm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Bị cáo nhân thân đã bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học, mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

[5]. Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo (là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự), nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về làm công dân có ích cho xã hội.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của pháp luật bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên xét bị cáo không có tài sản và thu nhập không ổn định nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Về xử lý vật chứng: Đối với 2,78 gam (hai phẩy bảy mươi tám gam) ma túy (Ketamine); 0,39 gam (Không phẩy ba mươi chín gam) ma túy (Ketamine); 01 (Một) viên ma túy (MDMA) có khối lượng 0,40 gam (Không phẩy bốn mươi gam); 0,38 gam (Không phẩy ba mươi tám gam) ma túy (MDMA); 01 (Một) viên ma túy (MDMA) có khối lượng 0,38 gam (Không phẩy ba mươi tám gam); 01 (Một) viên ma túy (MDMA) có khối lượng 0,16 gam (Không phẩy mười sáu gam), đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên không xem xét.

Đối với 16,72 gam (Mười sáu phẩy bảy mươi hai gam) ma túy (Ketamine); 1,18 gam (Một phẩy mười tám gam) các viên ma túy (MDMA) là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy.

Đối với các vỏ bao bì ban đầu được niêm phong vào 01 (Một) phong bì thư; 01 (Một) chiếc áo khoác màu đen thu giữ tại tủ quần áo phòng 217, khách sạn B được niêm phong vào 01 (Một) thùng cát tông, số vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 (Một) chiếc cân tiểu ly màu đen, xám, không có nhãn hiệu thu giữ tại phòng 217, khách sạn B hiện đang còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước

Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu đen, đã qua sử dụng, số Imeil: 357853680463115, số Imei2: 357853680463467, thu giữ của Nguyễn Thị T, quá trình điều tra không chứng minh được chiếc điện thoại liên quan đến hành vi thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo là đúng quy định

[8]. Vấn đề khác:

Đối với Trần Đức T2 là người cất số ma túy tại chỗ ở của Nguyễn Thị T (Theo lời khai của T); Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập T2 làm việc nhưng T2 không có mặt tại địa phương. Do đó, Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Khách sạn B, việc các đối tượng trên cất dấu ma túy ở trong phòng thuộc quyền sở hữu nhưng đại diện khách sạn là ông Nguyễn Anh T4, sinh năm 1986, trú tại xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (Giám đốc) không biết nên không phạm tội

[9]. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng: điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Xử phạt Nguyễn Thị T 06 (sáu) năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 28/9/2024.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy: 16,72 gam (Mười sáu phẩy bảy mươi hai gam) ma túy (Ketamine);1,18 gam (Một phẩy mười tám gam) các viên ma túy (MDMA) và các vỏ bao bì ban đầu được niêm phong vào 01 (Một) phong bì thư; 01 (Một) chiếc áo khoác màu đen thu giữ tại tủ quần áo phòng 217, khách sạn B được niêm phong vào 01 (Một) thùng cát tông

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) chiếc cân tiểu ly màu đen, xám, không có nhãn hiệu thu giữ tại phòng 217, khách sạn B

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T 01 (Một)điện thoại di động nhãn hiệuIphone 14 Pro Max, màu đen, đã qua sử dụng, số Imeil: 357853680463115, số Imei2: 357853680463467, thu giữ của Nguyễn Thị T;

(Vật chứng trên có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D và Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu).

3.Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có mặt quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - CQĐT Công an huyện Diễn Châu;
  • - CQTHAHS huyện Diễn Châu;
  • - CCTHADS huyện Diễn Châu;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger