Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án: 22/2025/HS-ST

Ngày 24 tháng 02 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Khiêm.
  2. Bà Lê Thị Minh Khánh.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà:

Bà Lương Mỹ Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Trí D - Kiểm sát viên trung cấp

Ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2024/HSST ngày 05 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn H, sinh năm 1974; giới tính: nam; tên gọi khác: không; nơi ĐKTT: Thôn L, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi ở: Thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/112; nghề nghiệp: kinh doanh (nguyên giám đốc Công ty TNHH H4); con ông: Hoàng Văn N, sinh năm: 1933 (đã chết); con bà: Đào Thị G, sinh năm: 1939 (đã chết); gia đình có 06 anh em, bản thân là thứ 6; vợ: Lê Thị H1, sinh năm: 1979; con: 04 con, lớn sinh năm 1996; nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. (có mặt tại phiên tòa)

*Bị hại: Ủy ban nhân dân tỉnh B.

Địa chỉ: số H, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

Người đại diện theo uỷ quyền: ông Ngô Trí D1, sinh năm 1977 - Trưởng phòng Tài nguyên khoáng sản, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B. (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: đường N, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Vũ Văn G1, sinh năm 1965. (vắng mặt).
  2. Địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  3. Ông Nguyễn Ngọc D2, sinh năm 1960. (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  5. Ông Hoàng Anh H2, sinh năm 1996. (vắng mặt).
  6. Địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  7. Ông Trương Văn Q, sinh năm 1980. (vắng mặt).
  8. Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  9. Ông Đỗ Duy K, sinh năm 1987 (có mặt).
  10. Địa chỉ: tổ dân phố S, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  11. Ông Dương Văn T, sinh năm 1981. (vắng mặt).
  12. Địa chỉ: Khu Trung Tâm, phường Bến Tắm, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương

  13. Ông Dương Văn H3, sinh năm 1988. (vắng mặt).
  14. Địa chỉ: Thôn Bãi Thoả 1, xã Bắc An, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương

  15. Ông Dương Khánh N1, sinh năm 1977. (vắng mặt).
  16. Địa chỉ: Thôn B, xã B, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

  17. Ông Trần Minh T1, sinh năm 1988. (vắng mặt).
  18. Địa chỉ: Thôn A, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

  19. Bà Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1992. (vắng mặt).
  20. Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  21. Bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1985. (vắng mặt).
  22. Địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  23. Bà Hoàng Thị N2, sinh năm 1962. (vắng mặt).
  24. Địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  25. Công ty TNHH H4. (vắng mặt).
  26. Địa chỉ: thôn L, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Thùy D3, sinh năm 1995 - Chức vụ: giám đốc. (vắng mặt).

Địa chỉ: thôn C, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Hoàng Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Công ty TNHH Hoàng Dương (gọi tắt là Công ty H4), địa chỉ: thôn L, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang được thành lập từ năm 2010 hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Giang cấp ngày 03/8/2010, mã số doanh nghiệp: 2400520568, hai thành viên gồm: Hoàng Văn H, sinh năm 1974 và Vũ Văn G1, sinh năm 1965 đều ở thôn L, xã C, huyện L (tỷ lệ vốn góp: Hiện- 80%, G1- 20%). Ngày 14/11/2016, đăng ký thay đổi lần thứ nhất, thay đổi vốn điều lệ của Công ty. Ngày 17/3/2020, đăng ký thay đổi lần 2, thay thành viên Vũ Văn G1 sang Nguyễn Ngọc D2, sinh năm 1960 ở thôn L, xã C, huyện L (tỷ lệ vốn góp: Hiện- 95%, D- 5%). Ngày 15/3/2022, đăng ký thay đổi lần 3, thay đổi tỷ lệ vốn góp của H và D2 (Hiện- 91,667%, D- 8,33%). Ngày 18/3/2022, đăng ký thay đổi lần 4, thêm thành viên Hoàng Anh H2, sinh năm 1996, ở thôn L, xã C, huyện L (con trai Hiện) góp vốn vào Công ty và thay đổi tỷ lệ góp vốn giữa các thành viên (tỷ lệ góp vốn: Hiện- 55%, H2- 40%, D2- 5%). Ngày 30/11/2023, đăng ký thay đổi lần 5, thay đổi thành viên góp vốn vào Công ty, H2 chuyển nhượng toàn bộ tỷ lệ vốn góp sang Hiện (tỷ lệ vốn góp: Hiện- 95%, D- 5%). Ngày 15/01/2024, đăng ký thay đổi lần 6, Hiện chuyển toàn bộ tỷ lệ vốn góp vào Công ty sang Trần Thị Thùy D3, sinh năm 1995 ở thôn C, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định (con dâu của Hiện) (tỷ lệ vốn góp: Dung- 95%, D- 5%).

Từ ngày 03/8/2010 đến ngày 15/01/2024: Giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty là ông Hoàng Văn H; từ ngày 15/01/2024 đến nay: Giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty là bà Trần Thị Thùy D3 sinh năm 1995, Lĩnh vực hoạt động của Công ty là: Sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng. Xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi, dân dụng và công nghiệp. San lấp mặt bằng các công trình. Khai thác đất, đá, cát, sỏi... Từ năm 2016 đến nay, Công ty H4 lập hồ sơ xin cấp phép khai thác khoảng sản (đất san lấp) tại khu vực H và hòn Bu Lu thôn H, xã C, huyện L để cung cấp đất san lấp cho các tổ chức, cá nhân và dự án trên địa bàn huyện L.

Đầu năm 2016, Công ty H4 đã lập hồ sơ đề nghị UBND tỉnh B cấp phép khai thác khoáng sản (đất san lấp) tại khu vực H và hòn B, thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quá trình lập hồ sơ, Công ty H4 đã thuê Công ty TNHH MTV T2, địa chỉ: Phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (gọi tắt là Công ty T2) là đơn vị tư vấn thăm dò, đánh giá trữ lượng khoáng sản. Trên cơ sở kết quả thăm dò và hồ sơ đề nghị cấp phép, UBND tỉnh B đã cấp phép khai thác khoáng sản cho Công ty H4 theo 02 Quyết định:

Ngày 07/11/2016, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 1785/QĐ- UBND (gọi tắt là QĐ 1785) cho phép Công ty H4 khai thác khoáng sản (đất làm vật liệu san lấp) bằng phương pháp lộ thiên tại khu vực H và hòn B, thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang để làm nguyên liệu san lấp mặt bằng các công trình xây dựng: dự án công trình Nhà máy gạch Tuynel của Công ty TNHH Đ tại thôn D và thôn Đ, xã B, huyện L; dự án nhà máy gạch của Hợp tác xã S, xã C, huyện L. Theo đó, Công ty H4 được phép khai thác trên diện tích 1,14 ha (đất rừng sản xuất), được giới hạn bởi các điểm góc từ 1 đến 4, có toạ độ xác định trên bản đồ hệ toạ độ VN2000 kinh tuyến trục 1070 múi chiếu 30, được tính chuyển sang kinh tuyến trục 1050 múi chiếu 60, tỷ lệ 1/1.000 và Phụ lục kèm theo; trữ lượng địa chất (đất làm vật liệu san lấp- cấp 122) là 158.460m3; công suất khai thác 80.000m3/năm; mức sâu kết thúc khai thác đến cốt +25m (cao hơn cốt nền nhà văn phòng mỏ 0,4m; cốt nền nhà văn phòng mỏ tương ứng cốt + 24,6m); thời hạn khai thác là 24 tháng kể từ ngày 07/11/2016.

Ngày 27/3/2017, UBND tỉnh B ban hành Quyết định 484/QĐ- UBND (gọi tắt là QĐ 484) cho phép Công ty H4 khai thác khoáng sản (đất làm vật liệu san lấp) bằng phương pháp lộ thiên tại khu I, khu vực H và hòn Bu Lu thôn H, xã C, huyện L để làm nguyên liệu san lấp mặt bằng thực hiện dự án Nhà máy N3- Bắc Giang tại xã V, huyện L. Diện tích khai thác 0,86ha (đất rừng sản xuất), được giới hạn bởi các điểm góc từ 1 đến 4, có toạ độ xác định trên bản đồ hệ toạ độ VN2000 kinh tuyến trục 1070 múi chiếu 30, được tính chuyển sang kinh tuyến trục 1050 múi chiếu 60, tỷ lệ 1/1.000 và Phụ lục kèm theo; trữ lượng địa chất (đất làm vật liệu san lấp- cấp 122) là 109.220m3; công suất khai thác năm thứ nhất 90.000m3/năm, năm thứ hai 19.220m3/năm; mức sâu kết thúc khai thác đến cốt +25m (cao hơn cốt nền nhà văn phòng mỏ 0,4m; cốt nền nhà văn phòng mỏ tương ứng cốt + 24,6m); thời hạn khai thác là 18 tháng kể từ ngày 27/3/2017.

Để thực hiện hoạt động khai thác đất làm vật liệu san lấp, ngoài thực hiện các quy định về nộp phí, cắm mốc các điểm góc khu vực khai thác trên thực hiện... cần phải bổ nhiệm Giám đốc điều hành mỏ có tiêu chuẩn theo quy định. Do biết Trương Văn Q, sinh năm 1987, địa chỉ: xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang tốt nghiệp Đại học mỏ địa chất, đủ tiêu chuẩn để làm giám đốc điều hành mỏ, nên H đã mượn bằng đại học, bảng điểm của Q rồi làm thủ tục bổ nhiệm Q làm giám đốc điều hành mỏ. Sau khi hoàn thiện hồ sơ, Hiện đã chỉ đạo, điều hành Công ty H4 đã tiến hành khai thác khoáng sản là đất san lấp theo 02 Quyết định trên từ năm 2016 đến năm 2018 thì kết thúc.

Đầu năm 2018, Hoàng Văn H tiếp tục lập hồ sơ đề nghị UBND tỉnh B cấp phép khai thác khoáng sản (đất san lấp) tại khu vực H và hòn B, thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang (tiếp giáp với 02 khu vực khai thác trước đây) cho Công ty H4. Quá trình lập hồ sơ, Hiện thuê Trung tâm triển khai công nghệ khoáng chất, trường Đại học M - Địa chất, Hà Nội là đơn vị tư vấn thăm dò,

đánh giá trữ lượng khoáng sản. Ngày 31/01/2019 UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 228/QĐ-UBND (gọi tắt là QĐ 228) cho phép Công ty H4 khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường (đất làm vật liệu san lấp) bằng phương pháp lộ thiên tại khu vực H và hòn Bu Lu thôn H, xã C, huyện L để san lấp cho dự án Nhiệt điện A- Bắc Giang và các dự án hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn huyện L. Diện tích khai thác là 3,6ha, được giới hạn bởi các điểm góc từ 1 đến 6, có toạ đoạ xác định trên bản đồ tỷ lệ 1/1.000 theo hệ toạ độ VN2000 kinh tuyến trục 1070 múi chiếu 30, được tính chuyển sang kinh tuyến trục 1050 múi chiếu 60 và Phụ lục kèm theo; trữ lượng khoáng sản khai thác: 573.255m3; trữ lượng khoáng sản được phép đưa vào thiết kế khai thác: 551.420m3, công suất khai thác 90.000m3/năm; mức sâu kết thúc khai thác đến cốt +25m (cao hơn cốt nền nhà văn phòng mỏ 0,4m; cốt nền nhà văn phòng mỏ tương ứng cốt + 24,6m); thời hạn khai thác là 6,5 năm kể từ ngày ký Giấy phép.

Sau khi được UBND tỉnh B cấp phép, Hiện mượn bằng đại học và bảng điểm của Đỗ Duy K, sinh năm 1987, địa chỉ: xã P (nay là thị trấn P), huyện L, tỉnh Bắc Giang, rồi làm thủ tục bổ nhiệm K làm Giám đốc điều hành mỏ đất (làm vật liệu san lấp) tại khu vực H và hòn Bu Lu, thôn H, xã C. Hiện đã chỉ đạo, điều hành Công ty H4 tiến hành khai thác khoáng sản là đất san lấp từ năm 2019 đến nay.

Quá trình khai thác khoáng sản, Hoàng Văn H chỉ đạo Dương Văn T, sinh năm 1981, ở khu T, phường B, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Dương Văn H3, sinh năm 1988, ở thôn B, xã B, thành phố C, tỉnh Hải Dương là nhân viên sử dụng máy xúc của Công ty thực hiện khai thác đất; chỉ đạo Dương Khánh N1, sinh năm 1977 ở Thôn B, xã B, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Trần Minh T1, sinh năm 1988 ở thôn A, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương và một số người khác là nhân viên lái xe sử dụng xe ô tô của Công ty hoặc thuê ô tô (cả người lái xe và xe) thực hiện việc chở đất đã khai thác đến các Công trình theo giấy phép hoặc chở đến địa điểm theo yêu cầu của người mua đất (khai thác đất đến đâu, đổ ngay đất lên xe ô tô đến đó). Quá trình điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, khai thác khoáng sản (đất san lấp) của Công ty H4, Hiện không bàn bạc, thống nhất với những người tham gia góp vốn vào Công ty. Do diện tích đất được cấp phép khai thác tiếp giáp với diện tích đất của gia đình Hoàng Văn H và diện tích đất của bà Hoàng Thị N2, sinh năm 1962 ở thôn L, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang (chị gái của H) nên khi chỉ đạo việc khai thác đất tại mỏ, Hiện không thông báo, trao đổi, chỉ dẫn nội dung Giấy phép khai thác cho ai biết ranh giới các điểm khép góc, giới hạn khu vực được cấp phép khai thác khoáng sản, mà trực tiếp chỉ đạo những người lái máy múc thực hiện khai thác cả trong và ngoài phạm vi khu vực đã được cấp phép. Toàn bộ khối lượng khoáng sản đã khai thác

được (trong và ngoài phạm vi được cấp phép), Hiện bán cho nhiều tổ chức, cá nhân khác nhau. Khi mua bán đất, Hiện trực tiếp giao dịch, thỏa thuận với các cá nhân, tổ chức có nhu cầu về số lượng, giá bán; sau khi thống nhất với khách hàng, Hiện cung cấp thông tin của khách hàng cho Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1992 ở thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang và Nguyễn Thị K1, sinh năm 1985 ở thôn L, xã C, huyện L là Kế toán của Công ty H4 (Vân A làm kế toán từ năm 2014-2019; K1 làm Kế toán từ năm 2020- 2023) thiết lập hợp đồng kinh tế, hợp đồng mua bán; hình thức thanh toán có thể trả tiền mặt cho Hiện hoặc chuyển vào tài khoản số 2510201001650 mang tên Công ty H4 mở tại Ngân hàng N4; tài khoản số 46110000578598 mang tên Công ty H4 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 hoặc tài khoản số 4615056789 mang tên Hoàng Văn H mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1. Sau khi khách hàng mua đất thanh toán, Vân A, K1 căn cứ vào hợp đồng mua bán để xuất hoá đơn cho khách hàng và thực hiện việc kê khai, báo cáo thuế cho Công ty. Quá trình thực hiện khai thác khoáng sản theo Giấy phép từ năm 2016 đến năm 2023, Công ty H4 đã kê khai, nộp thuế tài nguyên tổng số tiền 2.062.399.520 đồng; phí bảo vệ môi trường tổng số tiền 188.786.122 đồng; tiền cấp quyền khai thác khoáng sản tổng số tiền là 845.695.990 đồng tại Chi cục thuế khu vực L - L.

Từ năm 2019 đến năm 2022, Công ty H4 thực hiện hoạt động khai thác khoáng sản (đất san lấp) đã xảy ra vi phạm và bị xử phạt như sau:

Ngày 04/12/2019, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B kiểm tra, phát hiện Công ty H4 có vi phạm khai thác ra ngoài ranh giới được cấp phép với diện tích là 8.409m2 = 14.430m3 đất san lấp (ở trạng thái tự nhiên) đã mang đi tiêu thụ. Sở T đã Thông báo, chuyển hồ sơ, tài liệu cho UBND huyện L lập biên bản vi phạm hành chính. Ngày 18/3/2020 UBND huyện L ra Quyết định số 1721/QĐ- XPVPHC, xử phạt vi phạm đối với Công ty H4 với mức phạt là 80.000.000 đồng và buộc Công ty H4 phải nộp lại số tiền đã thu lợi bất chính là 106.833.300 đồng. Ngày 31/3/2020, Công ty H4 đã chấp hành xong.

Ngày 04/4/2022, Phòng C Công an tỉnh B kiểm tra, phát hiện Công ty H4 có vi phạm khai thác ra ngoài ranh giới được cấp phép với diện tích là 2.086 m2 = 6.258 m3 đất san lấp (ở trạng thái tự nhiên) mang đi tiêu thụ; vi phạm mất mốc điểm khép góc khu vực được khai thác và không xây dựng hệ thống xử lý nước mưa chảy tràn. Sau khi kiểm tra, Phòng C đã lập biên bản vi phạm hành chính và chuyển hồ sơ, tài liệu cho UBND huyện L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty H4. Ngày 06/5/2022, UBND huyện L ra Quyết định số 2998/QĐ-XPVPHC, xử phạt vi phạm đối với Công ty H4 tổng số tiền phạt là 142.000.000 đồng và buộc Công ty H4 phải nộp lại số tiền đã thu lợi bất chính là 38.148.480 đồng. Ngày 18/5/2022, Công ty H4 đã chấp hành xong.

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, Phòng An ninh kinh tế Công an tỉnh B xác định Công ty H4 có dấu hiệu vi phạm trong hoạt động khai thác khoáng sản, ngày 18/12/2023 Phòng An ninh kinh tế Công an tỉnh B bàn giao vụ việc cho Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B giải quyết.

Ngày 04/01/2024, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B Quyết định trưng cầu giám định số 02/QĐ- ANĐT- Đ1 trưng cầu Giám định viên thuộc Liên đoàn địa chất Đ2, Cục Đ3 giám định diện tích, khối lượng khoáng sản (đất san lấp) Công ty H4 đã khai thác trong phạm vi và ngoài phạm vi được cấp phép; là khoáng sản gì?

Ngày 05/01/2024, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B phối hợp với Liên đoàn địa chất Đông Bắc và các cơ quan, đơn vị, tổ chức liên quan kiểm tra, xác định hiện trạng, thu mẫu (đất, đá) tại khu vực mỏ đất được cấp phép cho Công ty H4 tại khu vực H và hòn B, thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quá trình đo đạc, tổ công tác đã xác định toạ độ GPS của 768 điểm tại các khu vực đã được Công ty H4 khai thác tài nguyên, đồng thời lấy mẫy đất, đá tại khu vực đã khai thác để phục vụ công tác giám định. (BL 65-75)

Kết luận giám định số 23/KLGĐ-ĐCĐB ngày 31/01/2024 của Liên đoàn địa chất Đông Bắc, Cục Đ3 kết luận:

  • Tổng khối lượng khoáng sản đã khai thác đúng phạm vi diện tích khu vực khai thác, đúng mức sâu kết thúc khai thác (tính theo cốt +25m) là 669.154m3 (đất, đá ở trạng thái tự nhiên chưa nhân hệ số nở rời). Trong đó: khối lượng khoáng sản đã khai thác đúng phạm vi diện tích khu vực khai thác, đúng mức sâu kết thúc khai thác theo QĐ 1785 là 149.756m3; theo QĐ 484 là 85.386m3; theo QĐ 228 là 434.012m3.
  • Tổng khối lượng khoáng sản đã khai thác đúng phạm vi diện tích khu vực khai thác, đúng mức sâu kết thúc khai thác (tính theo cốt +21m) là 777.588m3 (đất, đá ở trạng thái tự nhiên chưa nhân hệ số nở rời). Trong đó: khối lượng khoáng sản đã khai thác đúng phạm vi diện tích khu vực khai thác, đúng mức sâu kết thúc khai thác theo QĐ 1785 là 176.003m3; theo QĐ 484 là 102.662m3; theo QĐ 228 là 498.923m3.
  • Tổng khối lượng khoáng sản đã khai thác đúng phạm vi diện tích khu vực khai thác, nhưng nằm ngoài mức sâu kết thúc khai thác (tính theo cốt +25m) là 268.294m3 (đất, đá ở trạng thái tự nhiên chưa nhân hệ số nở rời). Trong đó: khối lượng khoáng sản đã khai thác đúng phạm vi diện tích khu vực khai thác, nhưng nằm ngoài mức sâu kết thúc khai thác theo QĐ 1785 là 66.891 m3; theo QĐ 484 là 45.842 m3; theo QĐ 228 là 155.561 m3.
  • Tổng khối lượng khoáng sản đã khai thác đúng phạm vi diện tích khu vực khai thác, nhưng nằm ngoài mức sâu kết thúc khai thác (tính theo cốt +21m) là

159.860 m3 (đất, đá ở trạng thái tự nhiên chưa nhân hệ số nở rời). Trong đó: khối lượng khoáng sản đã khai thác đúng phạm vi diện tích khu vực khai thác, nhưng nằm ngoài mức sâu kết thúc khai thác theo QĐ 1785 là 40.644 m3; theo QĐ 484 là 28.566 m3; theo QĐ 228 là 90.650 m3.

  • * Ngoài phạm vi diện tích khu vực khai thác (theo các QĐ 1785; QĐ 484 và QĐ 228 của Chủ tịch UBND tỉnh B):
    • Tổng diện tích đã khai thác là 4,4ha (44.000m2).
    • Tổng khối lượng khoáng sản đã khai thác là 635.089m3.
    • Diện tích, khối lượng khoáng sản đã khai thác trên phần diện tích đất đã cấp cho hộ bà Hoàng Thị N2: Tổng diện tích đã khai thác là 1,18ha (11.800m2); tổng khối lượng khoáng sản đã khai thác là 255.052m3.
  • * Mẫu vật ở các vị trí nằm ngoài phạm vi diện tích khu vực khai thác và nằm ngoài mức sâu kết thúc khai thác (theo các QĐ 1785; QĐ 484 và QĐ 228 của Chủ tịch UBND tỉnh B) là đất san lấp. (BL 76-82)

Kết luận giám định số 23/KLGĐ-ĐCĐB ngày 31/01/2024 của Liên đoàn địa chất Đông Bắc, Cục Đ3 xác định cốt nền văn phòng mỏ là +20,6m, tương ứng mức sâu kết thúc khai thác là cốt +21,0m. Tại các QĐ 1785, QĐ 484, QĐ 228 của UBND tỉnh B cho phép Công ty H4 khai thác ở mức sâu kết thúc khai thác đến cốt +25m (cao hơn cốt nền nhà văn phòng mỏ 0,4m; cốt nền nhà văn phòng mỏ tương ứng cốt + 24,6m). Công ty T2 là đơn vị tư vấn cho Công ty H4 khi xin cấp phép khai thác khoáng sản xác định kết quả đo đạc của Liên quan địa chất Đông Bắc là đúng thực tế. Tại thời điểm tư vấn, do phương pháp và thiết bị đo đạc bản đồ trước năm 2021 còn thiếu thốn, lạc hậu nên dẫn đến kết quả đo của Công ty T2 không chính xác về cốt độ cao, chỉ đồng nhất về kết quả thăm dò, đánh giá trữ lượng khoáng sản. Các Quyết định cấp phép cho Công ty H4 khai thác khoáng sản đều lấy cốt nền văn phòng mỏ là cốt so sánh để xác định mức sâu kết thúc khai thác. Do vậy, xác định mức sâu kết thúc khai thác khoáng sản tại khu vực thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang của Công ty TNHH H5 theo cốt +21m, để làm căn cứ xác định khối lượng khoáng sản (đất san lấp) Hiện đã khai thác trái phép.

Ngày 28/02/2024, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B có Yêu cầu định giá tài sản số 117/YC-ANĐT- Đ1. Ngày 08/3/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bắc Giang kết luận:

  • Khoáng sản (đất san lấp) đã khai thác ngoài mức sâu kết thúc được cấp phép thời điểm từ năm 2016 đến năm 2017: Khối lượng: 69.210m3; Đơn giá: 15.000đ/1m3; Thành tiền: 1.038.150.000 đồng.
  • Khoáng sản (đất san lấp) đã khai thác ngoài mức sâu kết thúc được cấp phép thời điểm từ năm 2019 đến năm 2023: Khối lượng: 90.650m3; Đơn giá: 27.000đ/1m3; Thành tiền: 2.447.550.000 đồng.
  • Khoáng sản (đất san lấp) đã khai thác ngoài phạm vi diện tích khu vực được cấp phép thời điểm từ năm 2019 đến năm 2023: Khối lượng: 635.089 m3; Đơn giá: 27.000đ/1m3; Thành tiền: 17.147.403.000 đồng, trong đó: khoáng sản (đất san lấp) đã khai thác ngoài phạm vi diện tích khu vực được cấp phép thời điểm từ năm 2019 đến năm 2023, nằm trên phần diện tích đất đã cấp cho hộ bà Hoàng Thị N2: Khối lượng: 255.052m3; Đơn giá: 27.000đ/1m3; Thành tiền: 6.886.404.000 đồng.

Quá trình điều tra, Hoàng Văn H khai: Năm 2021, Hoàng Thị N2 bị UBND huyện L xử lý vi phạm hành chính về hành vi tự ý san gạt, hạ thấp mặt bằng làm biến dạng địa hình trên thửa đất của bà N2. Do cần mặt bằng, nên bà N2 nói nếu ai xin cấp phép khai thác đất, hạ cốt nền thì bà N2 cho đất. Gia đình bà N2 không sinh sống tại thửa đất này mà bỏ đất hoang hóa, không có người quản lý, nên thời điểm cuối năm 2021 và năm 2022 có nhiều người đến thửa đất của bà N2 để khai thác đất. Bản thân Hiện cũng thực hiện việc khai thác trái phép trên diện tích đất của bà N2 với diện tích khoảng 0,5ha, trữ lượng khoáng sản khoảng 100.000m3 đất san lấp và đã mang đi tiêu thụ hết. Lời khai của Hoàng Văn H phù hợp với lời khai của Hoàng Thị N2. Kết quả điều tra không xác định được những ai đã đến phần đất của gia đình bà N2 để khai thác đất trái phép. Căn cứ lời khai của Hiện, N2, xác định tổng khối lượng khoáng sản (đất san lấp) Hiện đã khai thác trái phép trên phần diện tích của gia đình bà N2 là: 100.000m3.

Như vậy, tổng khối lượng khoáng sản (đất san lấp) Công ty H4 và Hoàng Văn H đã khai thác trái phép (khai thác ngoài mức sâu kết thúc khai thác và ngoài phạm vi được cấp phép) từ 2016 đến hết năm 2023 là: 159.860 m3 + (635.089m3- 255.052m3) + 100.000 m3= 639.897 m3, có tổng trị giá là 16.446.699.000 đồng (giai đoạn 2016 - 2017 là 69.210m 3, trị giá: 1.038.150.000 đồng; giai đoạn 2019 - 2023 là 570.687m3, trị giá: 15.408.549.000 đồng).

Năm 2020 và năm 2022 Công ty H4 bị UBND huyện L xử phạt hành chính về hành vi khai thác khoáng sản trái phép (khai thác ngoài phạm vi được cấp phép). Kết quả điều tra, xác định việc UBND huyện L ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty H4 là đảm bảo căn cứ, đúng quy định và Công ty H4 đã chấp hành xong các Quyết định xử phạt. Do đó, xác định khối lượng và trị giá khoáng sản là đất san lấp Hoàng Văn H đã khai thác trái phép từ năm 2016 đến hết năm 2023 là: 639.897 m3- (14.430m3 + 6.258m3)= 619.209 m3 (giai đoạn 2016-2017: 69.210m3, giai đoạn 2019-2023: 549.999m3). Tổng

trị giá khoáng sản Hiện khai thác trái phép là: (69.210 m3 x 15.000 đồng) + (549.999 m3 x 27.000 đồng) = 15.888.123.000 đồng. (Khấu trừ phần khoáng sản Công ty H4 khai thác trái phép đã bị xử lý)

Đối với khối lượng khoáng sản Hoàng Văn H khai thác trái phép là 619.209m3. Kết quả làm việc với UBND tỉnh B, Sở T, Chi cục Thuế khu vực L - Y, tỉnh Bắc Giang xác định Hiện nhưng chưa nộp thuế, phí theo quy định, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước với tổng số tiền là 3.776.139.491 đồng; trong đó: Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản là 584.126.842 đồng; tiền thuế tài nguyên là 1.434.697.507 đồng; phí bảo vệ môi trường là 1.757.315.142 đồng. Quá trình điều tra, Hoàng Văn H đã nộp lại số tiền 3.776.140.000 đồng để khắc phục hậu quả.

Kết quả điều tra xác định được Công ty H4 thực hiện giao dịch mua bán đất san lấp với 53 tổ chức cá nhân (đất san lấp khai thác được từ khu vực thôn H, xã C và mua lại của các Công ty) với tổng khối lượng 2.524.849m3 nhưng không xác định được khối lượng đất đã bán cho tổ chức, cá nhân nào là đất khai thác đúng giấy phép hay ngoài phạm vi được cấp phép; không xác định được cụ thể khối lượng đất khai thác từng năm trong phép, ngoài phép. Mặt khác, quá trình điều tra đến nay không thu thập được tài liệu, chứng cứ xác định cụ thể các khoản thu, chi phí phát sinh trực tiếp liên quan đến hoạt động khai thác đất san lấp. Do đó, không đủ căn cứ để xác định số tiền thu lợi bất hợp pháp của Hoàng Văn H hay của Công ty H4.

Đối với Trương Văn Q, sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã N, huyện L và Đỗ Duy K, sinh năm 1987, địa chỉ: xã P (nay là thị trấn P), huyện L, tỉnh Bắc Giang: Năm 2016, 217, Hoàng Văn H hỏi xin bản phô tô Bằng tốt nghiệp Mỏ - Địa chất của Q, K do quen biết nhau nên Q, K đồng ý. Sau đó, H đã sử dụng bản phô tô Bằng tốt nghiệp Mỏ - Địa chất của Q, K để hoàn thiện hồ sơ, bổ nhiệm Quyền, K là Giám đốc điều hành mỏ đất của Công ty H4. Q, K đều không biết Hiện sử dụng Bằng tốt nghiệp đại học của mình để làm gì, không tham gia bất cứ hoạt động nào liên quan và không được hưởng lợi từ hoạt động của Công ty H4 nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

Đối với Vũ Văn G1, Nguyễn Ngọc D2, Hoàng Anh H2 là các thành viên góp vốn vào Công ty H4 trong giai đoạn 2016-2023, nhưng các hoạt động khai thác khoáng sản, mua bán đất san lấp của Công ty H4 đều do Hoàng Văn H quản lý, chỉ đạo, điều hành; những người này chỉ góp vốn, không nắm được các mốc giới khu vực khai thác và cốt độ sâu kết thúc khai thác, không biết việc Hiện chỉ đạo khai thác đất ngoài mức sâu kết thúc khai thác, ngoài phạm vi được cấp phép và không được phân chia lợi nhuận từ việc Hiện khai thác trái phép khoáng sản, nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

Đối với Dương Văn T, Dương Văn H3 là nhân viên lái máy xúc; Dương Khánh N1, Trần Minh T1 và một số người khác là nhân viên lái xe chở đất của Công ty đều thực hiện theo chỉ đạo của Hoàng Văn H. Quá trình làm việc tại mỏ đất, không biết Giấy phép khai thác khoáng sản của Công ty và không được Hiện nói cho biết về phạm vi, ranh giới, mốc giới Công ty H4 được cấp phép khai thác, do đó không có căn cứ để xem xét, xử lý. Đối với Nguyễn Thị Vân A, Nguyễn Thị K1 là kế toán Công ty H4, được Hoàng Văn H thuê để thực hiện tổng hợp hóa đơn, chứng từ phát sinh; làm báo cáo tài chính, báo cáo thuế; thiết lập hợp đồng kinh tế, hợp đồng mua bán đất và xuất hóa đơn giá trị gia tăng theo chỉ đạo của Hiện; không trực tiếp tham gia bất cứ hoạt động khai thác, kinh doanh nào của Công ty H4; không biết Công ty H4 hay Hiện đã khai thác khoáng sản trái phép nên Hội đồng xét xử chưa đủ căn cứ để xem xét, xử lý.

Đối với Hoàng Thị N2, quá trình điều tra xác định bà N2 có 03 thửa đất rừng, với tổng diện tích là 14.875,6m2 tiếp giáp với khu mỏ khai thác đất của Công ty H4. Đầu năm 2021, bà N2 đã thuê máy san gạt, hạ cốt nền với mục đích lấy mặt bằng xây dựng công trình chăn nuôi, nhưng không xin cấp phép nên bị UBND huyện L xử phạt hành chính. Sau khi bị xử phạt hành chính, bà N2 không canh tác và trông nom, quản lý 03 thửa đất này. Sau đó, Hiện có trao đổi muốn mua đất san lấp trên 03 thửa đất của bà N2 và một số người (N2 không nhớ rõ cụ thể) đặt vấn đề xin đất của gia đình bà N2 để đổ làm đường thôn, tân nền nhà, tân vườn... bà N2 đồng ý và yêu cầu họ phải làm thủ tục cấp phép mới được lấy đất. Do bà N2 và gia đình không sinh sống trên 03 thửa đất, không canh tác và không thường xuyên đến các thửa đất này nên không biết Hiện hay ai khác đã khai thác đất, vì vậy chưa đủ căn cứ để xem xét xử lý. Bà N2 không có yêu cầu, đề nghị gì về khối lượng đất đã bị Hiện hoặc ai khác đã khai thác.

Đối với Công ty TNHH H4 từ khi thành lập đều do Hoàng Văn H là người đại diện theo pháp luật, người giữ số vốn góp cao nhất. Ngoài lĩnh vực khai thác khoáng sản (đất san lấp), Công ty H4 còn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng, mua bán và lắp đặt thiết bị điện nước, sửa chữa ô tô... Kết quả điều tra xác định được từ năm 2016 đến hết năm 2023, Công ty H4 thực hiện hoạt động mua bán và xuất hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) là đất san lấp với 53 tổ chức, cá nhân. Các tổ chức, cá nhân này đều xác định mua, bán đất san lấp và được Công ty H4 xuất hoá đơn. Việc xuất hóa đơn đúng nội dung, khối lượng, giá trị hàng hóa và đúng lĩnh vực đã đăng ký kinh doanh. Định kỳ, Công ty H4 thực hiện báo cáo tài chính, báo cáo thuế đầy đủ, nên không có căn cứ xác định Công ty H4 có vi phạm trong việc xuất hóa đơn giá trị gia tăng. Quá trình điều tra, không thu thập được tài liệu, chứng cứ xác định Công ty H4 tổ chức, chỉ đạo, điều hành hoạt động khai thác khoáng sản (đất san lấp) ngoài phạm vi, ngoài mức sâu được cấp phép mà toàn bộ hoạt động này đều do cá nhân Hoàng Văn H thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử chưa có cơ sở xem xét, xử lý trách nhiệm pháp nhân đối với Công ty H4.

[11]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

[12]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt và điều luật áp dụng:

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 227; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với Hoàng Văn H.

Xử phạt: bị cáo Hoàng Văn H 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hoàng Văn H cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Phạt bổ sung bị cáo Hoàng Văn H 100.000.000đồng (Một trăm triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Hoàng Văn H phải bồi thường cho Ủy ban nhân dân tỉnh B số tiền 3.776.139.491đồng. Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 3.776.140.000đồng tại Cơ quan điều tra được Cơ quan Công an chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Ủy ban nhân dân tỉnh B được nhận số tiền 3.776.140.000đồng do bị cáo nộp được chuyển từ tài khoản của Công an tỉnh B đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang theo biên lai số 0000203 ngày tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

6. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cơ quan ANĐT- CA tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Cổng thông tin điện từ của TANDTC;
  • - Lưu HS, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về khai thác tài nguyên

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2024/HSST ngày 05 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo: Họ và tên: Hoàng Văn H, sinh năm 1974; giới tính: nam; tên gọi khác: không; nơi ĐKTT: Thôn L, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi ở: Thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger