Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22 /2025/HS-ST

Ngày: 21 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Giang
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Hùng Tuấn
  • Ông Nguyễn Duy Tính
  • - Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Lan- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Hạnh - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên Trần Hải Đ, sinh ngày 23/6/1983; Nơi cư trú: Tổ D, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Hữu T, sinh năm 1950 (Đã chết) và Trần Thị Kim T1, sinh năm 1950; Vợ, con: chưa có

- Tiền án: 02 tiền án:

  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 172/2015/HSST ngày 29/10/2015 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Trần Hải Đ 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Đăng đã thi hành xong án phí ngày 29/10/2015, chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 18/4/2019.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2021/HS-ST ngày 02/02/2021 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Trần Hải Đ 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Ngày phạm tội 04/11/2020. Đăng chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 04/6/2023.

2

- Tiền sự: Không

- Nhân thân:

  • + Ngày 23/4/2004, Trần Hải Đ bị Công an thành phố V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý với hình thức Phạt tiền 100.000 đồng. Đăng đã thi hành xong ngày 23/4/2004.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 67/HS-ST ngày 28/5/2004 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Trần Hải Đ 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đã thi hành xong án phí ngày 20/3/2005.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 152/2005/HSST ngày 06/9/2005 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Trần Hải Đ 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với bản án số 67 ngày 28/5/2004, buộc Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 bản án là 21 tháng tù. Đăng đã thi hành xong án phí ngày 31/5/2007 và chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/4/2007.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 277/2008/HSST ngày 24/11/2008 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Trần Hải Đ 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 24 tháng tù về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” Tổng hợp hình phạt của hai tội là 54 tháng tù. Đăng đã chấp hành xong án phí ngày 14/01/2009, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/11/2012.
  • + Quyết định số 07/2014/QĐ-XPVPHC ngày 28/02/2014 của Công an thành phố V xử phạt Trần Hải Đ 1.500.000 đồng về hành vi “ sử dụng trái phép chất ma túy”. Đăng đã chấp hành xong ngày 28/02/2014;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/10/2024 đến ngày 21/10/2024, Cơ quan điều tra khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam đối với Trần Hải Đ. Hiện bị cáo đang tạm giam tại nhà tạm giữ - Công an thành phố V. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 05 phút ngày 15/10/2024, tại tổ D, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác của Công an thành phố V đang làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang đối với Trần Hải Đ, sinh năm 1983; Trú tại: Tổ D, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đang có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại chỗ, Đ tự giác lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc ra 01 gói có đặc điểm bên ngoài được cuốn bằng băng dính màu đen, bên trong có 01 túi nilon màu da cam một

3

đầu có khuy bấm, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng giao nộp cho cơ quan Công an. Đ khai nhận là ma túy đá của Đ, mục đích để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, còn thu giữ của Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu hồng trắng đã cũ, số imei: 358206087978913101 kèm 01 sim số 0869535818. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và niêm phong số ma tuý có đặc điểm như trên theo quy định của pháp luật. Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra kết quả xét nghiệm ma tuý bằng que thử nước tiểu đối với Đ. Kết quả Đ có sử dụng chất ma tuý.

Cùng ngày Cơ quan CSĐT - Công an thành phố V đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với chất rắn dạng tinh thể màu trắng đã thu giữ của Trần Hải Đ.

Tại Bản kết luận giám định số 1426/KL-KTHS ngày 18/10/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận: “Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 01 túi nilon gửi đến giám định có khối lượng là: 0,468 gam, là ma túy, loại: Methamphetamine.

*Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, số thứ tự: 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.

Hoàn trả lại 0,363 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Tại cơ quan điều tra, Trần Hải Đ khai nhận về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ khi bị bắt quả tang: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 14 giờ 00 phút ngày 15/10/2024, Trần Hải Đ một mình bắt xe khách (Đ không nhớ biển số xe và tên nhà xe là gì) đi xuống khu vực ngã tư thuộc xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma tuý. Tại đây, Đ gặp và hỏi mua ma túy của một người đàn ông tự giới thiệu tên là H khoảng 40 tuổi (không rõ họ, địa chỉ cụ thể) được 01 gói ma tuý có đặc điểm bên ngoài được cuốn bằng băng dính màu đen, bên trong có 01 túi nilon màu da cam một đầu có khuy bấm, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Đ cầm gói ma tuý vừa mua được bắt xe khách đi về nhà còn H đi đâu làm gì Đ không biết. Khi Đ đi về đến khu vực bãi đỗ xe thuộc khu T, phường T, thành phố V thì bị tổ công tác Công an thành phố V kiểm tra và bắt quả tang như đã nêu trên.

Ngoài ra Đ còn tự khai nhận vào khoảng 10 giờ ngày 12/10/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý đá Đ đi đến khu vực gần chợ T2 thuộc phường T, thành phố V. Tại đây Đ gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết khoảng hơn 40 tuổi ( Đ không biết tên, tuổi địa chỉ) 01 túi ma tuý đá với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được túi ma tuý đá Đ đã sử dụng hết cho bản thân.

Về vật chứng, tài sản thu giữ: 01 bì niêm phong số 1426/KL-KTHS ngày 18/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh P hoàn trả lại 0,363 gam chất rắn dạng

4

tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu hồng trắng đã cũ, số imei: 358206087978913101 kèm 01 sim trong máy số 0869535818 của Trần Hải Đ (Hiện đang tạm giữ tại kho vật chứng chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).

Tại bản Cáo trạng số: 06/CT – VKS- VT ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Trần Hải Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Hải Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • - Về hình phạt:

    Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Hải Đ từ 05 năm sáu tháng tù đến 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 15/10/2024.

    Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu hồng trắng đã cũ, số imei: 358206087978913101 của Trần Hải Đ.

  • - Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu để tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 1426/KL-KTHS ngày 18/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh P hoàn trả lại 0,363 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 thẻ sim số 0869535818 của Trần Hải Đ không còn giá trị sử dụng.

  • - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Hải Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Hải Đ không tranh luận, không bào chữa gì, thừa nhận và ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của bản thân. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

5

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Cơ quan điều tra - Công an thành phố V; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
  2. [2] Về căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Hải Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm pháp luật của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận:

    Khoảng 15 giờ 05 phút ngày 15/10/2024, tại tổ D, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Trần Hải Đ có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,468 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác của Công an thành phố V phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

    Quá trình xác minh nhân thân, Bản án hình sự sơ thẩm số 172/2015/HSST ngày 29/10/2015 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Trần Hải Đ 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Đăng đã thi hành xong án phí ngày 29/10/2015, chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 18/4/2019; Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2021/HS-ST ngày 02/02/2021 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Trần Hải Đ 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Ngày phạm tội 04/11/2020. Đăng chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 04/6/2023. Tính đến ngày Trần Hải Đ thực hiện hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Đ chưa được xóa án tích mà còn phạm tội mới với lỗi cố ý . Do vậy, lần phạm tội này của Trần Hải Đ là tái phạm nguy hiểm, là tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

    Hành vi nêu trên của Trần Hải Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm o Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

6

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 đến 05 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

o) Tái phạm nguy hiểm”.

Do vậy, Quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Hải Đ của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

  1. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc loại tội phạm rất nghiệm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy; làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; là tiền đề phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.
    1. [3.1] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Hải Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nhưng có nhân thân xấu, nhiều lần bị Tòa án xét xử đã được xóa án tích và bị xử phạt vi phạm hành chính đã chấp hành xong đã coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo Đ còn có 02 tiền án chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới. Do vậy, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, tuy nhiên đã áp dụng là tình tiết định khung hình phạt nên không được coi là tình tiết tăng nặng.
    2. [3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhe trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự. Bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng nhất, huy chương kháng chiến hạng nhì nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
    3. [3.3] Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Trên cơ sở phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội, nên cần xử phạt bị cáo

7

hình phạt tù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung tội phạm.

  1. [4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề, hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần tài sản. Vì vậy, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với tài sản đang tạm giữ của bị cáo là điện thoại di động.
  2. [5] Về xử lý vật chứng :
    • - Đối với tài sản của bị cáo đang bị tạm giữ là điện thoại di dộng không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng do áp dụng hình phạt bổ sung nên cần tịch thu để nộp ngân sách Nhà nước.
    • - Số ma túy đã thu giữ còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy; Đối với sim số điện thoại của bị cáo không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  3. [7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Hải Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
  4. [8] Đối với các vấn đề khác trong vụ án:

    Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý ngày 12/10/2024 của Trần Hải Đ, Cơ quan điều tra chuyển Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, hình thức phạt cảnh cáo là đúng quy định pháp luật.

    Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho Đ ngày 12/10/2024 và người đàn ông tên H đã bán ma túy cho Đ ngày 15/10/2024, do Đ không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của Đ không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không xác định được, không đề cập xử lý trong vụ án là đúng quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm o khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

8

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Hải Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Trần Hải Đ 06 (S) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 15/10/2024.

    Về hình phạt bổ sung: Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu hồng trắng đã cũ, số IMEI: 358206087978913101 của Trần Hải Đ.

  3. Về xử lý vật chứng

    Tịch thu để tiêu hủy: 01 bì niêm phong có số: 1426/KL-KTHS ngày 18/10/2024 của Phòng K- Công an tỉnh P hoàn trả lại 0,363 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 thẻ sim số 0869.535.818 của Trần Hải Đ không còn giá trị sử dụng.

    (Theo Quyết định chuyển vật chứng số : 06/QĐ-VKS-VT ngày 20/01/2025 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Hải Đ phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKS ND TP Việt Trì;
  • - VKS ND tỉnh Phú Thọ;
  • - Nhà tạm giữ - Công an TP. Việt Trì;
  • - Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Bị cáo;
  • - Chi cục THADS thành phố Việt Trì;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Lưu hồ sơ AV, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương Giang

9

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương Giang

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Hải Đ phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger