|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21/02/2025 V/v ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Liêu Văn Lộc.
- Bà Nguyễn Thị Minh Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà:
Không.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 444/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXX-ST ngày 07 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 31/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Á, sinh năm 1971; (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Lê Phước H, sinh năm 1973; (vắng mặt)
Nơi cư trú: số A, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
SĐT: 0333.650.xxx
Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. SĐT: 0359.606.xxx
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị bà Lê Thị Á trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Phước H xây dựng hôn nhân do cha mẹ hai bên định đoạt, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn ông bà ra ở riêng. Quá trình chung sống với nhau vợ chồng ít có được hạnh phúc, luôn xảy ra mâu thuẫn, ông H tính gia trưởng, bạo lực gia đình. Đến năm 2012 ông H bị chấp hành án phạt tù 12 năm về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Năm 2022 vào dịp lễ 30/4 ông H được về trước thời hạn phạt tù. Kể từ khi ông H về nhà không thay đổi tính tình, ông H luôn gây mâu thuẫn vô cớ với vợ con, ông dùng những lời lẽ thô tục, thập chí đánh bà, hành vi bạo lực, ngược đãi của ông H đã xúc phạm đến danh dự của bà. Từ tháng 7/2022 bà và ông H sống ly thân đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu ly hôn với ông H.
- Về quan hệ con chung: có 02 con chung tên Lê Minh D, sinh ngày 09/6/1995 và Lê Phước L, sinh ngày 21/11/2007. Hiện con chung Lê Minh D đã trưởng thành, nên đề nghị không đặt ra xem xét. Hiện tại, em L đang sống với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi em L, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi em L.
- Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Toà án đã nhiều lần triệu tập bị đơn ông Lê Phước H để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, cũng như tham gia phiên toà nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Lê Thị Á khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con với bị đơn ông Lê Phước H, bị đơn ông H hiện có nơi cư trú tại: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án về tranh chấp ly hôn, nuôi con và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:
Ngày 14/02/2025, nguyên đơn bà Lê Thị Á có đơn đề nghị xét xử vắng mặt được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị đơn ông Lê Phước H đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Ánh T:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Theo nguyên đơn bà Á trình bày thì bà và bị đơn ông Lê Phước H tiến đến hôn nhân, được cha mẹ hai bên có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên hôn nhân của ông, bà được xem là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng ít có được hạnh phúc, luôn xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà Á trình bày do ông H tính gia trưởng, luôn gây mâu thuẫn vô cớ với vợ con, ông H dùng những lời lẽ thô tục, thập chí đánh bà, hành vi bạo lực, ngược đãi của ông H đã xúc phạm đến danh dự của bà, từ đó cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Bà và ông H sống ly thân từ tháng 7/2022 đến nay.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần mở phiên hoà giải nhằm tạo điều kiện để bà Á và ông H hàn gắn tình cảm, nhưng bà Á vẫn kiên quyết ly hôn, ông H được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, điều này chứng tỏ ông H không có nguyện vọng đoàn tụ với bà Á. Bà Á và ông H đã ly thân từ tháng 7/2022 đến nay, nhưng ông, bà không hàn gắn tình cảm lại được.
Tất cả điều này cho thấy hôn nhân của bà Á và ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Á.
[2.2] Về quan hệ con chung: có 02 con chung tên Lê Minh D, sinh ngày 09/6/1995 và Lê Phước L, sinh ngày 21/11/2007. Đối với em Lê Minh D đã trưởng thành, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 29/11/2024 em L có nguyện vọng sống với mẹ nếu cha mẹ ly hôn. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay em L đã sống ổn định với bà Á, ông H không có ý kiến được trực tiếp nuôi dưỡng em L. Do đó, để đảm bảo cuộc sống của em L được ổn định, không bị xáo trộn sau khi cha mẹ ly hôn nên căn cứ quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Á, giao em L cho bà Á tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng. Bà Á phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông H được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc em L, không ai cản trở khi ông H thực hiện quyền này.
Về cấp dưỡng: Bà Á không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi em L nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
[3] Về án phí: Bà Á phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0007845 ngày 12/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Ánh .
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Á được ly hôn với ông Lê Phước H.
- Về quan hệ con chung: có 02 con chung tên Lê Minh D, sinh ngày 09/6/1995 và Lê Phước L, sinh ngày 21/11/2007. Đối với em Lê Minh D đã trưởng thành, nên không đặt ra xem xét.
Bà Lê Thị Á được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng em Lê Phước L.
Về cấp dưỡng: ông Lê Phước H không phải cấp dưỡng nuôi em L do bà Á không yêu cầu.
Bà Á cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông H thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục em Lê Phước L.
Nếu người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người còn lại thì người còn lại có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng dựa trên các quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
- Về án phí: Bà Lê Thị Á phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0007845 ngày 12/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Á và ông Lê Phước H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Kim Quyên |
Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hon
