TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2025/HS-ST Ngày: 20/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Thủy - Ông Nguyễn Thanh Minh Hiền.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Jét - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Kiệt - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án huyện T, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 của Tòa án huyện Tháp Mười, đối với bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Văn C, sinh ngày 12/11/1996; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Kiên Giang; Nơi thường trú: Ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm: Không rõ và con bà Lâm Thị T, sinh năm 1976 (còn sống); vợ, con: Chưa có; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấp đi khỏi nơi cư trú và bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu năm 2020, bị cáo Nguyễn Văn C truy cập mạng xã hội Facebook tình cờ thấy bài viết quảng cáo với nội dung “Nhận làm các loại giấy tờ, bằng cấp”. Do chưa có giấy phép lái xe hạng A1, bị cáo C nhắn tin liên hệ và đặt làm giấy phép lái xe giả với giá 1.500.000 đồng để sử dụng. Bị cáo kết bạn Zalo với người quản lý trang rồi gửi thông tin về họ tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ thường trú, hình ảnh của C và mua 03 thẻ nạp V mệnh giá 500.000 đồng gửi mã cho người này để trả tiền làm giả giấy phép lái xe. Khoảng 02 tuần sau, C nhận được bưu phẩm chuyển đến (hiện không xác định được thông tin đơn vị vận chuyển và bưu tá), bên trong có một giấy phép lái xe loại thẻ làm bằng nhựa PET, thuộc hạng A1, số [...], cấp ngày 15/4/2020, có chữ ký của Đỗ Văn T1 và đóng dấu tròn màu đỏ của Sở giao thông vận tải tỉnh A. Bị cáo C cất giữ giấy phép lái xe giả này và mang theo người khi tham gia giao thông.
Đến khoảng 09 giờ ngày 30/9/2020, trên đường đi làm về, bị cáo C điều khiển xe mô tô biển số 68D1-665.49 lưu thông trên tuyến đường H thuộc địa phận Khóm B, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp do vi phạm tốc độ nên bị lực lượng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đ ra hiệu lệnh dừng phương tiện để kiểm tra, lập biên bản vi phạm. Lúc này, bị cáo C đã xuất trình giấy phép lái xe giả đặt mua trước đó nhằm che giấu cho lỗi vi phạm không có giấy phép lái xe theo quy định và bị tạm giữ giấy phép lái xe giả này để đảm bảo xử phạt. Sau đó, nghi vấn giấy phép lái xe do C xuất trình là giả, Phòng C1 Công an tỉnh Đ tiến hành trưng cầu giám định cho kết quả là giấy phép lái xe giả nên chuyển hồ sơ, tang vật có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận giám định số 1088/KL-KTHS ngày 05/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Giấy phép lái xe hạng A1, số H, họ tên Nguyễn Văn C là giả.
Về vật chứng, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 giấy phép lái xe hạng A1, số H, họ tên Nguyễn Văn C (giấy phép lái xe giả).
Tại Cáo trạng số 08/CT-VKSTM ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Đại điện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
+ Về tội danh: Căn cứ Điều 341 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".
+ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C với mức án từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.
+ Về vật chứng: Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 giấy phép lái xe hạng A1, số H, họ tên Nguyễn Văn C (giấy phép lái xe giả).
- Bị cáo C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận nội dung gì. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo để đi làm lo cho mẹ và 02 em nhỏ còn đi học.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như mô tả trong Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện T. Cụ thể là, bị cáo Nguyễn Văn C chưa có giấy phép lái xe hạng A1, ngày 30/9/2020, bị cáo đã có hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông trên tuyến đường H đoạn thuộc Khóm B, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp chạy quá tốc độ quy định nên bị lực lượng Cảnh sát giao thông dừng xe lập biên bản vi phạm. Để không bị lập biên bản vi phạm về lỗi không có giấy phép lái xe theo quy định, bị cáo C đã xuất trình giấy phép lái xe hạng A1 giả có số [...], cấp ngày 15/4/2020, có chữ ký của Đỗ Văn T1 và đóng dấu tròn màu đỏ của Sở giao thông vận tải tỉnh A mà bị cáo đã đặt mua trên mạng xã hội Facebook trước đó.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với Bản kết luật giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự, quy định như sau:
“Điều 341. Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.”
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo:
Bản thân bị cáo là người đã thành niên, bị cáo nhận thức được hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, cụ thể là giấy phép lái xe giả là vi phạm pháp luật. Nhưng, xuất phát từ việc nhận thức hậu quả pháp lý kém nên bị cáo đã đặt mua giấy phép lái xe hạng A1 giả có số [...], cấp ngày 15/4/2020, có chữ ký của Đỗ Văn T1 và đóng dấu tròn màu đỏ của Sở giao thông vận tải tỉnh A trên mạng xã hội Facebook, mục đích để không bị lập biên bản vi phạm về lỗi không có giấy phép lái xe theo quy định, đối phó với cơ quan chức năng. Hậu quả, ngày 30/9/2020, bị cáo đã có hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông trên tuyến đường H đoạn thuộc Khóm B, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp chạy quá tốc độ quy định nên bị lực lượng Cảnh sát giao thông dừng xe lập biên bản vi phạm. Để không bị lập biên bản vi phạm về lỗi không có giấy phép lái xe theo quy định, bị cáo C đã xuất trình giấy phép lái xe hạng A1 giả có số [...], cấp ngày 15/4/2020, có chữ ký của Đỗ Văn T1 và đóng dấu tròn màu đỏ của Sở giao thông vận tải tỉnh A mà bị cáo đã đặt mua trên mạng xã hội Facebook trước đó nên phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp và tội phạm đã hoàn thành.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Do đó, Tòa án huyện Tháp Mười đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết, nhằm để bị cáo biết sai, sửa sai để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời, góp phần phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để Hội đồng xét xử giảm nhẹ khi lượng hình. Xét bản thân bị cáo có nhân thân tốt từ trước đến nay chưa có tiền sự và tiền án; ngoài lần phạm tội này thì bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính của gia đình tạo thu nhập để lo cho mẹ và 02 em nhỏ còn đi học; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng hiện đang sinh sống tại xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Đồng thời, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù giam và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Ngoài ra, nhằm thể hiện bản chất nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa nên cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp.
[7] Đối với người có hành vi làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức liên quan đến giấy phép lái xe giả của Nguyễn Văn C, bị cáo không còn lưu giữ bất kỳ thông tin gì có liên quan nên chưa có cơ sở để chứng minh, làm rõ. Do đó, tách ra khỏi vụ án này, khi có căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
[9] Xét lời đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát huyện T là có căn cứ và phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 20/02/2025).
Giao bị cáo C cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 giấy phép lái xe hạng A1, số H, họ tên Nguyễn Văn C (giấy phép lái xe giả).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Tinh |
Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP về sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 22/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức
