Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC BÌNH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày 19-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tạ Văn Việt
  2. Bà Nguyễn Thị Phương Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hoàng Bảo Vân là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Phước - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 152/2024/TLST-HS, ngày 04 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/TLST-HS, ngày 20 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng A (Tên gọi khác: M), sinh ngày 16 tháng 4 năm 1988, nơi sinh tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố X, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phú C và bà Nguyễn Thị Thanh N; có vợ là bà Trương Hoa Anh Đ và 02 người con;

Tiền án:

  • - Tại Bản án số 37/2011/HSST ngày 07/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 01/01/2012.
  • - Tại Bản án số 34/2013/HSST ngày 19/6/2013, Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 tháng tù về hành vi Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13/6/2014.
  • - Tại Bản án số 52/2017/HSST ngày 18/9/2017, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt 04 năm tù về hành vi Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 30/12/2020.

Tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/9/2024 (có mặt).

- Bị hại: Bà Trần Thị N1, sinh năm 1962 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị H, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: 43/11 P, ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn Văn A1, sinh năm 1993 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

  3. Hồ Ngọc T, sinh năm 1988 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hoàng A (có 03 tiền án) và Hồ Ngọc T (thường gọi là: Quậy, C1) là bạn bè quen biết chơi chung với nhau.

Vào trưa ngày 01/7/2023, Hồ Ngọc T tự ý lấy xe mô tô biển số 65K1-509.78 của bà Trương Thị H chở Nguyễn Hoàng A đi đến thành phố P chơi. T và A gặp người quen biết của Anh có tên thường gọi “Tèo em” (chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch) để uống cà phê. Sau đó, T rủ “Tèo em” cùng về lại thị trấn C chơi thì “Tèo em” đồng ý. Trong lúc uống cà phê, T thấy Anh và T1 em bàn bạc việc gì thì T không biết.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày 01/7/2023, A nói T điều khiển xe chở “Tèo em” và Anh từ P đi theo đường DT715 về lại Chợ L. Khi chạy đến địa phận thôn H, xã H, huyện B thì A nói T dừng xe lại. Anh hỏi mượn xe mô tô của T và kêu T đợi một lát để Anh chở “Tèo em” đi công việc mà không nói rõ là việc gì thì T đồng ý và ngồi đợi bên đường. Anh điều khiển xe mô tô chở “Tèo em” chạy đi. Trên đường đi, “Tèo em” và Anh thỏa thuận đi tìm tài sản để trộm cắp. Khi phát hiện xe mô tô biển số 86C1-114.80 của bà Trần Thị N1 đang dựng ở đường bê-tông không có ai trông coi và cắm chìa khóa trên xe đi cắt cỏ cách đó khoảng 90m nên A và “Tèo em” dừng xe lại quyết định lấy trộm chiếc xe này. Anh ngồi trên xe mô tô của T cảnh giới, còn “Tèo em” đi bộ tới gần xe mô tô, rồi leo lên xe mô tô 86C1- 114.80 mở khóa, nổ máy chạy đi. Bà N1 nghe tiếng xe thì phát hiện bị mất trộm xe mô tô nên đã tri hô và đồng thời điện thoại báo cho con trai là anh Nguyễn Văn A1, sinh năm 1993. Anh A1 thông báo cho một số người dân cùng tham gia chốt chặn, truy bắt các đối tượng.

Sau khi trộm được xe mô tô, Anh điều khiển xe mô tô biển số 65K1-509.78 và “Tèo khiển xe mô tô vừa trộm được chạy đến chỗ Hồ Ngọc T đang đợi. T lên xe mô tô để Anh chở chạy đi. Chạy được một đoạn thì bị người dân phát hiện, truy đuổi, bắt giữ T và A. Còn “Tèo em” bỏ lại xe mô tô biển số 86C1-114.80 chạy thoát được.

Công an xã H đã tiếp nhận hồ sơ, chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận định giá tài sản 98/2024/KL-HĐĐGTS ngày 29/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện B kết luận: “01 (một) chiếc xe mô tô biển số 86C1-114.80, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn đen trắng, số khung: RLCS5C640BY628498, số máy 5C64628494, dung tích xi lanh 110 cm, mua mới tháng 01/2012 tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 01/7/2023 có giá là 5.781.000 đồng.

Về tang, vật chứng của vụ án: Sau khi định giá tài sản, Cơ quan điều tra đã giao xe mô tô biển số 86C1-114.80 cho bà Trần Thị N1.

Đối với xe mô tô biển số 65K1-509.78, bà H không biết Nguyễn Hoàng A mượn xe do Hồ Ngọc T đang quản lý để sử dụng đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra đã giao trả cho bà H.

Về phần dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, bà N1 không yêu cầu gì thêm.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa tìm được người tên “Tèo em” để làm việc. Do đó để đảm bảo thời hạn điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo. Cơ quan điều tra tách vụ án để xử lý bị cáo Nguyễn Hoàng A và tiếp tục truy tìm đối tượng tên “Tèo em” để xử lý theo quy định pháp luật.

*Tại Cáo trạng số 154/CT-VKSBB ngày 30/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng A về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:

Giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng A mức án từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù.

Bị cáo trình bày: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng: Quá trình điều tra, những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra; bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản nên việc vắng mặt họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo Nguyễn Hoàng A có 03 tiền án. Lần gần nhất, tại Bản án số 52/2017/HSST ngày 18/9/2017, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt bị cáo 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Có tổ chức” và “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, bị cáo chưa được xóa án tích.

Thế nhưng vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/7/2023 tại thôn H, xã H, huyện B, khi phát hiện xe mô tô biển số 86C1-114.80 trị giá 5.781.000 đồng của bà Trần Thị N1 đang dựng ở đường bê-tông không có ai trông coi và cắm chìa khóa trên xe đi cắt cỏ cách đó khoảng 90m thì bị cáo A và người tên T1 em (không rõ nhân thân lai lịch) lén lút đi đến lấy trộm chiếc xe này. Lúc này bà N1 phát hiện bị mất trộm xe mô tô nên đã tri hô và đồng thời điện thoại báo cho con trai là anh Nguyễn Văn A1. Anh A1 thông báo cho một số người dân cùng tham gia chốt chặn, truy bắt được bị cáo Nguyễn Hoàng A.

Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố bị cáo.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Nguyễn Hoàng A thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.

[6] Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hoàng A là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Ngoài ra, bị cáo đã 03 lần bị xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng vẫn không lấy đó làm bài học, cố gắng tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội mà vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó cần phải xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi định giá tài sản, Cơ quan điều tra đã giao trả xe mô tô biển số 86C1-114.80 cho bà Trần Thị N1. Bà N1 không có yêu cầu bồi thường gì khác nên hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về người tên “Tèo em”: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa tìm được người tên “Tèo em” để làm việc. Do đó để đảm bảo thời hạn điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo. Cơ quan điều tra tách vụ án để xử lý bị cáo Nguyễn Hoàng A và tiếp tục truy tìm người tên “Tèo em” để xử lý theo quy định pháp luật là phù hợp.

[9] Về Hồ Ngọc T: Tại biên bản lấy lời khai bị cáo ngày 01/7/2023, biên bản lấy lời khai ngày 24/9/2024, bị cáo Nguyễn Hoàng A đều khai khi phát hiện xe mô tô biển số 86C1-114.80 của bà Trần Thị N1 không có người trông coi thì bị cáo Nguyễn Hoàng A, T1 em và T đã bàn bạc là A và T1 em sẽ đến lấy trộm xe, còn T đứng trên đường nhựa cảnh giới. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng A đều trình bày T không biết việc bị cáo A và “Tèo em” trộm cắp tài sản của bà N1, T không liên quan đến vụ án. Tại biên bản lấy lời khai ngày 01/7/2023 thì T cũng trình bày không biết việc bị cáo A và “Tèo em” trộm cắp tài sản của bà N1; các tài liệu, chứng cứ khác cũng không thể hiện T có liên quan đến việc trộm cắp tài sản của bà N1. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý T là phù hợp.

[10] Về vật chứng:

Sau khi định giá tài sản, Cơ quan điều tra đã giao xe mô tô biển số 86C1-114.80 cho bà Trần Thị N1.

Đối với xe mô tô biển số 65K1-509.78, bà Trương Thị H không biết Nguyễn Hoàng A mượn xe do Hồ Ngọc T đang quản lý để sử dụng đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra đã giao trả cho bà H là có căn cứ.

[11] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng A 04 (bốn) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/9/2024.

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/02/2025). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận (trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật);
  • - VKSND huyện Bắc Bình;
  • - Công an huyện Bắc Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Bình;
  • - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, V.P.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Hoàng Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng A phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger