Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày: 18/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Lâm;

Các Hội thẩm nhân dân: 1/Ông Nguyễn Đăng Khoa;

2/Bà Đinh Thị Hương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Là - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2025/TLST-HS ngày 21/01/2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HS ngày 05/02/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn S, sinh năm 1999 tại: TP ., tỉnh Hưng Yên; giới tính: Nam; HKTT: số E N, phường L, TP ., tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn T; con bà Nguyễn Thị Kim O; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 20/9/2023 bị Công an thành phố H, tỉnh Hưng Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích (Bị cáo chưa nộp phạt theo Quyết định xử phạt hành chính).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam - Công an tỉnh H, có mặt tại phiên tòa.

*Người làm chứng:

1/Ông: Phạm Tất T1, sinh năm 1968.

Trú tại: TDP P, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

2/Bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1972.

Trú tại: TDP B, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

(Đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ ngày 17/10/2024, Tổ công tác của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn S, sinh năm 1999, HKTT: số E N, phường L, TP ., tỉnh Hưng Yên đang bê 01 thùng bìa catton, bên trong nghi chứa hàng cấm (pháo nổ) tại đoạn đường QL5A thuộc địa phận tổ dân phố B, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Quá trình kiểm tra, thu giữ vật chứng: Các vật nghi là pháo (được niêm phong trong thùng catton, ký hiệu M1) gồm có:

  • + 01 vật hình hộp chữ nhật được bọc bên ngoài bằng giấy nhiều màu sắc, có ghi chữ nước ngoài, kích thước (17x15x14)cm, dây dẫn nổ màu xanh.
  • + 02 vật hình hộp chữ nhật được bọc bên ngoài bằng giấy nhiều màu sắc, có ghi chữ nước ngoài, kích thước (16,5x16,5x10)cm, dây dẫn nổ màu xanh.
  • + Các vật hình trụ tròn bằng giấy màu đỏ, đều cao 4,5cm, đường kính 1,6cm được kết nối với nhau thành bánh bằng dây dẫn màu trắng, mỗi bánh dài 80cm, rộng 10cm (tổng 18 bánh).
  • + 07 vật hình trụ tròn được bọc bên ngoài bằng giấy màu đỏ, đều cao 10cm, đường kính 05cm, mỗi đầu được gắn ngòi nổ màu trắng.
  • + 01 thùng bìa catton hình hộp chữ nhật màu vàng, kích thước (53x35x25)cm.
  • + 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Masstel màu xanh, bên trong có gắn 1 thẻ sim.

Tại bản kết luận giám định số: 345/KL-KTHS ngày 20/10/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận:

  • + Mẫu vật hình hộp chữ nhật, bên trong gồm các vật hình trụ tròn bằng giấy được kết dính với nhau thành giàn bằng dây dẫn, có tổng khối lượng: 4,50kg, bên trong các vật trụ tròn đều có thuốc pháo, là pháo, loại pháo nổ (pháo hoa nổ).
  • + Mẫu vật gồm các vật hình trụ tròn được bọc bên ngoài bằng giấy màu đỏ và các vật trụ hình tròn nhỏ được bọc bên ngoài bằng giấy màu đỏ được kết nối với nhau bằng dây dẫn màu trắng thành bánh, có tổng khối lượng là: 11,10kg, bên trong các vật trụ tròn đều có thuốc pháo, là pháo, loại pháo nổ.

H lại mẫu vật trong hộp bằng bìa carton ghi số: 345/K1-KTHS, bên trong có 14,50kg pháo (gồm 4,20kg pháo hoa nổ và 10,30kg pháo nổ). Hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hưng Yên.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn S khai nhận: Thùng carton chứa pháo nổ mà Cơ quan điều tra đã thu giữ ở trên không phải của S mà là của đối tượng có tài khoản Facebook “Hoa Hoa” đã thuê S và một thanh niên tên C (S không biết họ, tên, địa chỉ cụ thể của C) vận chuyển từ khu vực nghĩa trang (Sĩ không xác định được vị trí cụ thể) đến giao cho người khác tại đoạn đường Q thuộc tổ dân phố B, phường B, thị xã M. Chiếc điện thoại mà lực lượng chức năng thu giữ là của C đưa cho S để liên lạc với đối tượng nhận pháo.

Bản thân S xác định không biết mục đích người đàn ông có tài khoản “Hoa Hoa” và đối tượng C thuê S vận chuyển pháo giao cho người khác để làm gì. S không sử dụng chiếc điện thoại Masstel trên nên không biết bên trong điện thoại có những nội dung gì.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại Masstel, phát hiện: Điện thoại lắp sim thuê bao số 0584.867.850. Tại mục tin nhắn SMS có nội dung thể hiện số thuê bao 0584.867.850 thỏa thuận bán pháo nổ cho người có số thuê bao 057.068.067 và số thuê bao 0829.359.993.

Tra cứu thuê bao số 0584.867.850, xác định đăng ký tên Lưu Đức H1, sinh năm 2000, trú tại: quận T, TP .. Anh H1 xác định không sử dụng và cũng không cho ai sử dụng số điện thoại trên, anh H1 không biết ai tên S, không liên quan đến mua, bán pháo nổ. Cơ quan điều tra đã cho S nhận dạng qua ảnh đối với anh H1, S xác định anh H1 không phải là một trong hai người đàn ông gặp S ngày 17/10/2024.

Như vậy, có căn cứ xác định lời khai của S về nguồn gốc thùng catton chứa pháo và chiếc điện thoại đã thu giữ không phải của S, S chỉ là người vận chuyển pháo thuê cho người khác.

Đối với người đàn ông có tài khoản “Hoa Hoa”, người đàn ông tên C và đối tượng gọi điện hẹn nhận pháo, quá trình điều tra chưa có căn cứ xác minh làm rõ nhân thân, lai lịch của các đối tượng nên chưa có căn cứ xử lý.

Xác minh số thuê bao 0587.068.067, xác định đăng ký tên Trần Minh Đ1, sinh năm 2008, đại chỉ: tổ B, khóm C, huyện T, tỉnh An Giang; Xác minh số thuê bao 0829.359.993 đăng ký tên Lê Minh T2, sinh năm 2001, trú tại: thôn X, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Cơ quan điều tra xác minh đối với anh Trần Minh Đ1 nhưng anh Đ1 vắng mặt tại nơi cư trú nên không làm việc được. Anh T2 khai, xác định không sử dụng và cũng không cho ai sử dụng số điện thoại trên, không biết ai tên S, không liên quan gì đến việc mua bán pháo nổ. Do đó, chưa có căn cứ xác định được người sử dụng các số thuê bao trên nên chưa có căn cứ xử lý.

Cáo trạng số: 25/CT-VKS-P3 ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhất trí không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm như nội dung cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 17/10/2024.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Bản kết luận giám định số: 345/KL-KTHS ngày 20/10/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H; phù hợp khách quan với lời khai của người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đã đủ căn cứ kết luận: Thông qua mạng xã hội Facebook, khoảng 19 giờ ngày 17/10/2024 Nguyễn Văn S được đối tượng có tài khoản Facebook “Hoa Hoa” đã thuê và một thanh niên tên C (bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ cụ thể của C) vận chuyển 15,60kg pháo (gồm 4,5 kg pháo hoa nổ và 11,10kg pháo nổ) từ khu vực nghĩa trang (bị cáo không xác định được vị trí cụ thể) đến giao cho người nhận tại đoạn đường Q thuộc tổ dân phố B, phường B, thị xã M thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H bắt quả tang.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được pháo nổ là mặt hàng Nhà nước nghiêm cấm sản xuất, tàng trữ và buôn bán nhưng do ham lợi bị cáo đã vận chuyển thuê cho đối tượng không rõ tên, tuổi, địa chỉ 15,60kg pháo (gồm 4,5 kg pháo hoa nổ và 11,10kg pháo nổ) hưởng lợi nhuận. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cần xét xử nghiêm minh và dành cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng qui định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có ông ngoại là thương binh, bị nhiễm chất độc màu da cam. Đây là tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng thêm qui định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích nhưng chưa thi hành.

[5] Về hình phạt:

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Xét thấy, mặc dù bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng qui định tại Điều 52 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính nhưng bị cáo chưa thi hành; được hưởng ít tình tiết giảm nhẹ qui định tại Điều 51 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tuy không phải là đối tượng hình sự nguy hiểm nhưng việc vận chuyển pháo nổ đã bị Nhà nước nghiêm cấm và thường xuyên được các cấp tuyên truyền, phổ biến cũng như yêu cầu các hộ gia đình ký cam kết không đốt pháo nổ không có nguồn gốc trong các dịp lễ tết. Tuy nhiên, vì ham lợi nhuận bị cáo vẫn cố tình thực hiện việc vận chuyển thuê. Do vậy khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như nội dung đề xuất của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ răn đe, giao dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có động cơ vụ lợi, lẽ ra cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Đối với: 01 hộp bằng bìa catton ghi số: 345/K1-KTHS, bên trong có 14,50kg pháo (gồm 4,20kg pháo hoa nổ và 10,30kg pháo nổ). Là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đối tượng C đưa cho bị cáo để liên lạc với đối tượng nhận pháo. Đây là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu, phát mại sung ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S: 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/10/2024.

2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp bằng bìa catton ghi số: 345/K1-KTHS, bên trong có 14,50kg pháo (gồm 4,20kg pháo hoa nổ và 10,30kg pháo nổ).

Tịch thu, phát mại sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu xanh thu giữ của bị cáo.

(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/10/2024 giữa Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh H và Công an tỉnh H, ngày 17/02/2025 giữa Công an tỉnh H và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên).

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA, VP, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về vận chuyển hàng cấm

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Sĩ vận chuyển 15,6kg pháo nổ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger