TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 22/2025/HS-ST
Ngày 18/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ-THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hồng Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lương Anh Dũng
Bà Trương Thị Thái
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa: Bà Chử Thị Kim Quy - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 với các bị cáo:
1. Đỗ Thị Nhật H sinh năm 1976; HKTT và nơi ở: Thôn T, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn T (Đã chết) và bà Trần Thị C (Đã chết), Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba; Chồng là Lê Đại N sinh năm 1971; Theo danh chỉ bản số 634 ngày 31/10/2024 do công an huyện T cấp, về tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/10/2024 đến ngày 31/10/2024; Thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/10/2024 đến nay. “Bị cáo tại ngoại có mặt”.
2. Đỗ Thủy V, sinh năm 1971; HKTT: X3 Khu G, TT V, huyện T, Thành phố Hà Nội; Nơi ở: Thôn T, xã T, huyện T, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn T (Đã chết) và bà Trần Thị C (Đã chết), Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Chồng là Lê Công L (Đã chết), con trai Lê Công Đ sinh năm 1990; Theo danh chỉ bản số 633 ngày 31/10/2024 do công an huyện T cấp, về tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/10/2024 đến ngày 31/10/2024; Thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/10/2024 đến nay. “Bị cáo tại ngoại có mặt”.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Đình H1 sinh năm 1967; Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội. “Có đơn xin vắng mặt"
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Thị Nhật H và Đỗ Thủy V là hai chị em ruột, đều không có công ăn việc làm ổn định, làm nghề buôn bán tạp hóa, nước uống ở khu vực trước cửa cổng Bệnh viện K2 thuộc địa bàn xã T, T, Hà Nội. Ngày 22/10/2024, có một người phụ nữ (không rõ nhân thân lai lịch) đến gặp và đề nghị H, V ghi số lô đề rồi chuyển bảng cho người phụ nữ này để hưởng tiền chênh lệch. Sau khi thỏa thuận, hai bên thống nhất như sau: H và V sẽ nhận các số lô, số đề của khách chơi với giá 23.000 đồng/1 điểm lô, 90% tiền đề, 90 % tiền lô xiên, 90% tiền đề 3 càng rồi chuyển cho người phụ nữ này với giá 21.800 đồng/1 điểm lô, 83% tiền đề, 66% tiền lô xiên, 66% tiền đề 3 càng để hưởng tiền chênh lệch; sau 18 giờ mỗi ngày người phụ nữ này sẽ đến gặp H, V để thanh toán tiền mặt đối với các số lô, số đề mà H, V ghi được hôm đó. Sau đó, H đã cắt và chuẩn bị sẵn một số tích kê trắng để ở hộp trên mặt bàn bán nước với mục đích để H và V sử dụng ghi số lô, số đề cho khách chơi. Cả hai ngồi tại cửa hàng để ghi số lô, số đề cho khách; trường hợp H bận bán hàng hoặc không có mặt thì V sẽ ghi cho khách và ngược lại, nếu V thay H ghi các số lô, số đề của khách chơi vào tích kê thì V sẽ chụp ảnh lại tích kê rồi gửi qua zalo cho H để H tập hợp chung. Sau khi nhận các số lô, số đề của khách chơi, H sẽ tập hợp chung vào 01(một) tờ bảng giấy A4 ghi chi tiết các số lô, số đề. Đến khi có kết quả xổ số, H là người tổng hợp, tính tiền thắng thua. Khi khách trúng thưởng và quay lại cửa hàng lấy tiền thì H là người trả tiền nhưng nếu H bận không có mặt thì H sẽ chốt tiền để lại cho V để V trả cho khách. Số tiền được hưởng lợi từ việc ghi số lô, đề được H và V sử dụng để chi tiêu sinh hoạt cho hai chị em.
Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 24/10/2024, Hoàng Đình H1 (SN: 1967, trú tại thôn T, T, T, Hà Nội) đi đến cửa hàng tạp hóa của V và H tại thôn T, T, T, Hà Nội để mua đồ cá nhân. Tại đây, H1 thấy H và V đang bán số lô, số đề nên H1 đi vào mua của H và V: số lô: 54, 59, 05, 66 mỗi con 05 điểm tương ứng số tiền 460.000 đồng và số đề: 66, 44, 99 mỗi con 20.000 đồng tương ứng số tiền 60.000 đồng. Khi H đang ghi số lô, số đề trên vào 01 tờ tích kê và H1 chưa kịp trả tiền mua số lô, số đề cho H thì bị Tổ công tác thuộc Công an xã T kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác đã lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong tang vật và đưa H, V, H1 về trụ sở để làm việc.
Ngoài ra, tổ công tác tiến hành thu giữ của H: Số tiền 9.085.000 đồng, 01 tờ tích kê có ghi số lô số đề, 01 tờ A4 ghi lại số lô, số đề ngày 24/10, 01 tờ A4 ghi lại số lô, số đề ngày 23/10, 20 tờ tích kê trắng, 01 sổ kết quả, 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu đen lắp sim số điện thoại 0878.534.xxx và 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, màu xanh, lắp sim số điện thoại 0982.502.xxx; Thu giữ của H1 số tiền 520.000 đồng; Thu giữ của V: 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu xanh, lắp sim số điện thoại 0988.700.xxx.
Quá trình điều tra xác định được, trong khoảng thời gian từ ngày 23/10/2024 đến ngày 24/10/2024, Đỗ Thị Nhật H và Đỗ Vân T1 đã bán các số lô, số đề như sau:
- Ngày 23/10/2024, H và V nhận ghi số lô, số đề của người chơi rồi gửi cho người phụ nữ không quen biết tổng số tiền là 5.901.000 đồng, thu lời bất chính số tiền 428.920 đồng; Kết quả khách chơi trúng 60.000 đồng tiền đề tương ứng số tiền 4.800.000 đồng, 55 điểm lô tương ứng số tiền 4.400.000 đồng, 100 điểm lô xiên ba tương ứng số tiền 4.000.000 đồng, tổng số tiền khách trúng là 13.200.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của H và V ngày 23/10/2024 là 19.101.000 đồng.
- Ngày 24/10/2024, H và V nhận ghi số lô, số đề của người chơi với tổng số tiền là 9.085.000 đồng, thu lời bất chính số tiền 621.550 đồng. Ngoài ra H và V còn bán số lô số đề cho H1 với số tiền 520.000 đồng nhưng H1 chưa kịp đưa tiền cho H và V. Do thời điểm bị bắt quả tang, kết quả xổ số miền B chưa mở thưởng nên tổng số tiền đánh bạc của H và V là 9.605.000 đồng.
Các người mua trong 02 ngày trên là khách vãng lai, H và V không biết tên thật và địa chỉ. Khi mua lô đề và thanh toán thắng thua, khách và H, V trực tiếp giao dịch với nhau bằng tiền mặt.
Tại Cơ quan Điều tra, H và V đều khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Điều tra thu thập được.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSTT ngày 17/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố các bị cáo Đỗ Thị Nhật H và Đỗ Thủy V về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đúng như cáo trạng đã truy tố, không sửa đổi, bổ sung gì. Các bị cáo thừa nhận vào ngày 24/10/2024, tại thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội, tổ công tác Công an xã T, huyện T bắt quả tang Đỗ Thị Nhật H và Đỗ Thủy V đang có hành bán số lô, số đề cho Hoàng Đình H1. Quá trình điều tra xác định H và V đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề 02 lần trong các ngày 23/10/2024 với số tiền 19.101.000 đồng, ngày 24/10/2024 với số tiền 9.605.000 đồng. Tổng số tiền thu lời bất chính là 1.050.470 đồng.
Đại diện VKSND huyện Thanh Trì tại phiên tòa đưa ra các tài liệu, chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị giữ nguyên nội dung cáo trạng số 11/CT-VKSTT ngày 17/01/2025 đã truy tố đề nghị HĐXX.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm b, s khoản 1 Điều 51 (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả), khoản 2 (nhân thân tốt, hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính) Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 65 của BLHS đề nghị xử phạt:
- Đỗ Thị Nhật H từ 26 – 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 52 – 60 tháng kể từ ngày tuyên án.
- Đỗ Thủy V từ 22 – 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 52 – 60 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo cho UBND xã T, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
-Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
-Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS, Điều 106 của BLTTHS đề nghị tịch thu sung công 01 điện thoại Iphone 7 Plus thu giữ của H, 01 điện thoại 11 Promax thu giữ của V, các bị cáo đã dùng các điện thoại vào việc phạm tội.
Sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 9.085.000 đồng thu giữ của H và 520.000 đồng thu giữ của Hiến ngày 24/10/2024. Đề nghị sung vào Ngân sách số tiền 19.101.000 đồng các bị cáo đánh bạc ngày 23/10/2024 đã tự nguyện nộp lại.
Trả lại bị cáo H chiếc điện thoại Iphone 11 Promax thu giữ của bị cáo do điện thoại này không sử dụng vào việc phạm tội.
Nói lời sau cùng các bị cáo nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho các bị cáo mức án nhẹ nhất cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo trình tự thủ tục tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Ngoài ra quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì khác về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét thấy ngày 24/10/2024, tại thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội, tổ công tác Công an xã T, huyện T bắt quả tang Đỗ Thị Nhật H và Đỗ Thủy V đang có hành bán số lô, số đề cho Hoàng Đình H1. Quá trình điều tra xác định H và V đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề 02 lần trong các ngày 23/10/2024 với số tiền 19.101.000 đồng, ngày 24/10/2024 với số tiền 9.605.000 đồng. Tổng số tiền thu lời bất chính là 1.050.470 đồng. Như vậy đủ căn cứ kết luận hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của BLHS.
*Về vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo như sau: Các bị cáo H, V cùng tham gia đánh bạc, cùng cố ý thực hiện một tội phạm nên cùng thực hiện với vai trò đồng phạm. Trong đó trò của H là chính, V giúp sức tích cực và cùng hưởng lợi.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên HĐXX cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Lần phạm tội ngày 24/10/2024 của hai bị cáo là lần phạm tội đầu tiên bị bắt khởi tố điều tra và truy tố, các bị cáo thành khẩn khai báo thêm hành vi phạm tội vào ngày hôm trước, tuy nhiên hành vi phạm tội của hai lần đều thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, do đó HĐXX cho các bị cáo được hưởng tình tiết quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS.
Trước khi xét xử các bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền đánh bạc, các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình nên cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Hai bị cáo đều có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS. Cả hai bị cáo thuộc trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối Cao, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Đề nghị của VKS đối với các bị cáo áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp với nhận định của HĐXX.
[3] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đều không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền với các bị cáo là có căn cứ.
[4] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của BLHS, Điều 106 của BLTTHS tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 Iphone 7 plus, thu giữ của H và 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax thu giữ của V là tài sản dùng vào việc phạm tội.
Sung vào Ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc: Gồm 19.101.0000 đồng các bị cáo tự nguyện nộp đánh bạc ngày 23/10/2024; số tiền 9.085.000 đồng thu giữ của bị cáo H đánh bạc ngày 24/11/2024; Số tiền 520.000 đồng bị cáo H1 đánh bạc.
Trả lại bị cáo H chiếc điện thoại Iphone 11 Promax thu giữ của H.
Đối với Hoàng Đình H1 đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề nhưng nhân thân Hiến chưa có tiền án, tiền sự, số tiền dùng để đánh bạc không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Hoàng Đình H1 là có căn cứ.
Đối với các đối tượng mua số lô, số đề và người phụ nữ nhận số lô, số đề của H và V, Cơ quan Điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có kết quả. Hết thời hạn điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra quyết định tách tài liệu liên quan đến hành vi mua số lô, số đề của các đối tượng trên để để tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Quan điểm xử lý vật chứng của VKS phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[5]. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Đỗ Thị Nhật H và Đỗ Thủy V phạm tội “Đánh bạc”.
1. Về hình phạt chính
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 58, 65 của Bộ luật hình sự; Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Nhật H 20 (hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 40 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Thủy V 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo H, V về UBND xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội là nơi các bị cáo cư trú theo dõi giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của BLHS và Điều 106 của BLTTHS.
+ Sung vào Ngân sách nhà nước: 9.550.500 đồng của Đỗ Thị Nhật H nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo biên lai số 49592 ngày 11/02/2025 và số tiền 9.550.500 đồng của Đỗ Thủy V nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo biên lai số 49593 ngày 11/02/2025.
+ Sung vào Ngân sách nhà nước 9.605.000 đồng tiền các bị cáo đánh bạc theo ủy nhiệm chi số 02 năm 2025 giữa Công an Thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì.
+ Sung vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus 128 GB màu đen có Imei: 356570088009560 lắp số sim điện thoại 0878.534.xxx; 01 điện thoại Iphone 11 Promax 64 GB màu xanh có Imei: 353898108078908 lắp số sim 0988700762.
Trả lại bị cáo H 01 điện thoại di động Iphone 11 64 GB màu xanh có Imei: 352847116168756 lắp số sim 0982502405.
( Không kiểm tra chất lượng, thiết bị bên trong các máy điện thoại)
+) Tiêu hủy 20 tờ tích kê trắng và 01 sổ kết quả là vật không có giá trị sử dụng.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của BLTTHS và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của BLTTHS.
Báo cho các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Hồng Tuấn |
Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 22/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoan Vân Đánh bạc
