TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 22/2025/HS-ST Ngày 17-02-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hạng Minh Thu.
- Ông Lê Đình Hiệp.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Quỳnh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa:
Bà Ngô Thị Vân Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại Phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Việt T, sinh ngày 21 tháng 9 năm 1997 tại Thái Nguyên; nơi cư trú: Tổ I, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang H; và bà Đoàn Thị T1; có vợ Nông Thị H1, chưa có con: chưa có; tiền án, tiền sự không. Bị cáo bị bắt ngày 13/10/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; có mặt.
Người chứng kiến:
- - Ông Vũ Đức H2; vắng mặt.
- - Ông Lưu Văn Q; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 10 phút ngày 13/10/2024, tổ công tác Công an phường C, thành phố T phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T đang làm nhiệm vụ tại tổ D, phường H, thành phố T thì phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, nam giới trên khai tên là Nguyễn Việt T và tự giác lấy từ trong túi quần phía trước bên phải T đang mặc giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa bông thảo mộc khô (theo T khai là ma túy Cần sa mục đích để bán kiếm lời). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ vật chứng theo quy định. Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng.
Thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp đối với người, chỗ ở, đồ vật của Nguyễn Việt T tại tổ I, phường H, thành phố T. Kết quả khám xét: Không phát hiện, thu giữ gì.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong cân xác định: Số bông thảo mộc khô có khối lượng 0,823 gam (niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định).
Tại Kết luận giám định số 1108/KL-KTHS ngày 21/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Thảo mộc trong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định là chất ma túy, loại Cần sa, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,823 gam.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Việt T khai nhận: Ngày 08/10/2024, Nguyễn Việt T thông qua mạng xã hội Facebook mua được của một người không quen biết 01 túi ma túy Cần sa (đặc điểm là thảo mộc khô) với giá 180.000 đồng mục đích để bán kiếm lời. Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 12/10/2024, T đi câu cá ở khu vực phường T, thành phố T thì có một nam thanh niên tên là H3 (không rõ lai lịch địa chỉ) hỏi mua ma túy của T. T đồng ý bán cho người này 01 túi ma túy Cần sa với giá 250.000 đồng và hẹn giao dịch vào 16 giờ ngày 13/10/2024 tại khu vực gần cổng nhà khách Công ty G thuộc tổ D, phường H, thành phố T. Khoảng 16 giờ ngày 13/10/2024, T đi bộ từ nhà mang theo 01 túi nilon màu trắng chứa ma túy Cần sa để trong túi quần bên phải phía trước đang mặc đến khu vực khu vực gần cổng nhà khách Công ty G để bán nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác của Công an phường C phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T bắt quả tang như trên.
Lời khai nhận của Nguyễn Việt T phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định.
Vật chứng của vụ án: 02 bì niêm phong ký hiệu T1, T2 bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao mẫu vật. 01 bì niêm phòng ký hiệu ĐT bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đỏ, đã qua sử dụng. Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Cáo trạng số 15/CT-VKSTPTN ngày 08 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Việt T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Việt T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng: khoản 1, 5 Điều 251, điểm s khoản 1 điều 51; điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt T từ 24 đến 30 tháng tù. Phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng. Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Bị cáo không tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa vắng mặt của người chứng kiến, việc Tòa án xét xử vắng mặt người chứng kiến không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Việt T khai nhận hành vi như Cáo trạng đã nêu, lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đã đủ cơ sở xác định:
Hồi 16 giờ 10 phút ngày 13/10/2024, tại tổ D, phường H, thành phố T, Nguyễn Việt T đang có hành vi tàng trữ 0,823 gam chất ma túy, loại Cần sa mục đích để bán kiếm lời thì bị tổ công tác của Công an phường C, thành phố T phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Việt T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
[5] Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt.
[6] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có ông ngoại được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất do đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về hình phạt: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Căn cứ các quy định của Bộ luật hình sự; căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly xã hội đối với bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua bán ma túy với mục đích kiếm lời, cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo mới phù hợp với quy định tại khoản 5 điều 251 của Bộ luật hình sự.
[9] Về vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định và các vỏ bao mẫu gói. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiện Iphone thu giữ của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo khai nhận bị cáo sử dụng điện thoại để giao dịch mua, bán ma túy; do đó cần tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước theo quy định.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên tòa về điều luật áp dụng cũng như các vấn đề khác là phù hợp.
Đối với số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người không rõ lai lịch địa chỉ để bán cho 01 người tên H3 (không rõ lai lịch địa chỉ). Quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của những người trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Việt T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1, 5 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt T 24 (hai mươi bốn) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2024.
Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Phạt bổ sung bị cáo nộp ngân sách nhà nước 5.000.000đ (năm triệu đồng).
- Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong số T1 (bên trong có chứa 0,635 gam mẫu vật hoàn lại sau giám định và vỏ bao mẫu gửi giám định); 01 bì niêm phong ký hiệu T2 (bên trong chứa vỏ bao mẫu gói ban đầu).
- Tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động đã qua sử dụng, nhãn hiệu Iphone, màu đỏ, số Imei 35 655910 611 795 0, số I: 35 655910 624863 1, được niêm phong trong bì ký hiệu ĐT.
Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 95 ngày 06 tháng 02 năm 2025 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
- Án phí: Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.
- Quyền kháng cáo bản án: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Linh |
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Linh |
Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 22/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
