|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2025/HS - ST. Ngày: 27/02/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:+ Bà Ngô Thị Luân.
+ Bà Thạch Thị Lan Nhung.
- Thư ký phiên toà: Bà Đàm Thị Thu Duy - Là thư ký của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa:
Ông Mai Trường Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2025/TLST - HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
Trần Văn H; sinh năm: 1995; tại Bà Rịa Vũng Tàu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ' D, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H1 và bà Nguyễn Thị V; gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con út trong gia đình; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Văn B; sinh năm: 1995; tại Lâm Đồng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn G, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị G; gia đình bị cáo có 05 chị em, bị cáo là con thứ trong gia đình; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 15861/QĐ-XPHC ngày 04/9/2012 của Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B với số tiền là 375.000đ về hành vi gây rối trật tự công cộng.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1967.
- Địa chỉ: Thôn G, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Người làm chứng:
- + Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1992.
- Địa chỉ: Thôn G, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ 10 phút ngày 17/9/2024, thông qua công tác nghiệp vụ trinh sát nghi vấn tại nhà của Nguyễn Văn B, sinh năm 1995, trú tại thôn G, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng có hoạt động sử dụng trái phép chất ma tuý nên công an xã G phối hợp với Đội CSĐTTP về KT-MT công an huyện L tiến hành kiểm tra xác minh. Tại thời điểm kiểm tra tại nhà của Nguyễn Văn B, có mặt B và Trần Văn H, sinh năm: 1995, trú tại thôn Đ, xã Đ' D, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Quá trình làm việc cả B và H khai nhận vừa mới sử dụng ma tuý đá trên gác lửng trong phòng ngủ của Nguyễn Văn B. Đồng thời B tự nguyện giao nộp 01 bộ dụng cụ tự chế nghi dùng để sử dụng ma tuý gồm 01 chai nhựa có nắp màu xanh, trên nắp được đục hai lỗ, một lỗ gắn 01 ống hút màu cam và 01 cóng thuỷ tinh bên trong có bám dính chất màu trắng nghi là ma tuý. Lực lượng công an tiếp tục kiểm tra gác lửng phát hiện 01 cái bật lửa tự chế màu xanh có gắn ống kim loại hình trụ tròn màu trắng bạc; 01 cái bật lửa màu xanh; 01 gói nylon một đầu bị hở bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý; 01 đoạn ống nhựa bị cắt vát một đầu, một đầu được hàn kín; 01 vật kim loại có đầu sắc nhọn phía trên có tay cầm bằng nhựa màu đỏ nên tiến hành lập biên bản ghi nhận sự việc, thu giữ niêm phong toàn bộ tang vật.
Quá trình điều tra xác định: Do có mối quan hệ là bạn bè quen biết và đã từng sử dụng ma túy đá với nhau nên vào ngày 17/9/2024, Trần Văn H, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông đến nhà Nguyễn Văn B, sinh năm 1995, trú tại thôn G, xã G, huyện L để chơi và mang theo trên người 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy. Khi đến nhà B do không có điện thoại nên H hỏi mượn điện thoại di động nhãn hiệu Samsung All màu xanh của mẹ B là bà Nguyễn Thị G để sử dụng thì được bà Gia đồng ý. Sau đó B lấy chiếc điện thoại này rồi gắn sim số “0325.565.323” vào để sử dụng. Đến khoảng 18 giờ 00 cùng ngày khi bà Gia đi viếng đám tang chỉ có H và B ở trên gác lửng trong phòng ngủ của B thì H bàn bạc rủ B đi mua ma túy về sử dụng thì B đồng ý. Lúc này H có sẵn số tiền 200.000 đồng trên người nên đã sử dụng chiếc điện thoại mượn từ trước của bà Gia liên lạc đến số điện thoại 0986.572.xxx của người bán ma tuý tại khu vực xã G, huyện L (H không biết tên và không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua ma túy đá với số tiền 200.000 đồng thì người này đồng ý và nói ma tuý sẽ được để sẵn dưới cục gạch ở gần dịch vụ mai táng N thuộc thôn Q, xã G, huyện L, khi nào lấy được ma tuý thì để lại tiền dưới cục gạch. Lúc này do không có xe nên H đi bộ ra ngoài đường đón xe của người dân đi nhờ đến điểm hẹn theo hướng dẫn của người bán để mua ma tuý. Khi đến điểm hẹn H lật cục gạch lên thì thấy bên dưới có 01 gói nylon bên trong có chứa ma tuý thì H cầm lấy gói ma tuý cất vào trong người và để lại số tiền 200.000 đồng dưới cục gạch rồi đi về nhà B. Khi về đến nơi thì H đi lên gác lửng phòng ngủ của B rồi lấy từ trong áo khoác ra bộ dụng cụ sử dụng ma tuý là chai nhựa được đục hai lỗ, một lỗ gắn 01 ống hút màu cam, một lỗ gắn 01 cóng thuỷ tinh mà H chuẩn bị từ trước đặt xuống dưới sàn, H lấy cái tua vít có đầu sắc nhọn tự chế cắt một đầu gói nylon chứa ma tuý rồi lấy đoạn ống nhựa được cắt vát một đầu, một đầu hàn kín xúc ma tuý đổ vào cóng thuỷ tinh. Đỗ ma túy xong thì H lấy một cái bật lửa màu xanh mồi lửa vào cái bật lửa tự chế màu xanh có gắn ống kim loại hình trụ tròn màu trắng bạc đốt nóng cóng thuỷ tinh cho tan ma túy ra tạo thành khói rồi hút 02 lượt ma tuý vào cơ thể. H sử dụng ma túy xong thì đặt bộ dụng cụ xuống dưới sàn thì B tự cầm bộ dụng cụ lên đốt rồi hút 03 lượt ma tuý vào cơ thể. Khi cả hai sử dụng ma tuý xong thì B cầm bộ dụng cụ sử dụng ma tuý cất vào trong thùng xốp trên gác lửng trong phòng ngủ thì lực lượng công an đến tiến hành kiểm tra thì phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang vật đưa về trụ sở làm việc. Tại cơ quan công an qua test nhanh thì H và B đều dương tính với chất ma túy và cả hai đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Vật chứng thu giữ: 01 cái bật lửa tự chế màu xanh có gắn ống kim loại hình trụ tròn màu trắng bạc; 01 cái bật lửa màu xanh; 01 bộ dụng cụ tự chế nghi dùng sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa có nắp màu xanh trên nắp được đục 02 lỗ, một lỗ gắn 01 ống hút màu cam và 01 cóng thủy tinh bên trong có bám dính chất màu trắng nghi là ma túy; 01 gói nilon một đầu bị hở bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng nghi ma túy; 01 đoạn ống nhựa được cắt vát 01 đầu, một đầu được hàn kín; 01 vật kim loại có đầu sắc nhọn phía trên có tay cầm bằng nhựa màu đỏ; 01 điện thoại di động Samsung A11 màu xanh, số seri R9JN716H7BJ đã qua sử dụng bên trong có gắn sim 0325.565.323 (BL: 51, 60-62).
Tại Bản kết luận giám định số 1095/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu tinh thể (M1) bám dính trong bầu ống tròn ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu tinh thể (M2) bám dính trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine (BL: 71).
Ngày 05/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý vật chứng số 2734 trả lại 01 điện thoại di động hiệu Samsung A11, màu xanh cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị G (BL: 59).
Tại bản cáo trạng số 11/CT - VKS ngày 02/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Trần Văn H, Nguyễn Văn B về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, các bị cáo không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Văn B về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 30 đến 36 tháng tù. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 24 đến 30 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy được niêm phong bên trong có 01 bật lửa tự chế màu xanh có gắn ống kim loại hình trụ tròn màu trắng bạc; 01 bật lửa màu xanh; 01 chai nhựa có nắp màu xanh trên nắp đục 02 lỗ, một lỗ gắn một ống hút màu cam; 01 đoạn ống nhựa bị cắt vát 01 đầu và một đầu hàn kín; 01 vật bằng kim loại có đầu sắc nhọn phía trên có tay cầm màu đỏ bên ngoài được dán giấy niêm phong có chữ ký ghi tên Hoàng Công P, Nguyễn Tiến L, Phan Trọng Đ, Nguyễn Văn B, Trần Văn H, Nguyễn Văn T1 và dấu tròn đỏ của công an xã G, huyện L. 01 phong bì được niêm phong có chữ ký ghi họ tên Phạm Thị D, Lại Thanh Anh T2, Hoàng Công P và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K công an tỉnh L đựng bao gói vật chứng gửi giám định: Bao gồm: 01 phong bì bưu điện đựng một ống thủy tinh được uốn cong được cuốn bằng giấy mềm màu trắng, một đầu có dạng bầu tròn hở và 01 phong bì bưu điện đựng một gói nylon một đầu bị hở được quấn bằng giấy mềm màu trắng. 01 phong bì được niêm phong bên trong đựng sim số 0325.565.323 bên ngoài có chữ ký ghi tên Hoàng Công P, Trần Văn H và dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT công an huyện L.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên Tòa các bị cáo khai nhận: Vào ngày 17/9/2024 bị cáo H đến nhà bị cáo B chơi. Khi đi bị cáo H mang theo một bộ dụng cụ để sử dụng ma túy. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì bị cáo H rủ bị cáo B đi mua ma túy về sử dụng thì B đồng ý. Sau khi mua được ma túy bị cáo H đi lên gác lững lấy dụng cụ sử dụng ma túy ra để sử dụng ma túy. Bị cáo H sử dụng hai lần ma túy thì đặt xuống sàn, bị cáo B tự lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy lên sử dụng ba lần. Sau khi các bị cáo sử dụng xong ma túy thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang.
Theo kết luận giám định số 1095/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu tinh thể (M1) bám dính trong bầu ống tròn ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu tinh thể (M2) bám dính trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Trần Văn H, bị cáo Nguyễn Văn B đã phạm vào tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo đều là những người trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, do đó các bị cáo biết rõ việc tàng trữ, tổ chức... để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy là những hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, đồng thời còn tác động xấu đến tình hình trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Bởi vì, ma túy là loại độc dược, gây ra nhiều tác hại đối với người sử dụng và còn là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, đồng thời cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Chính vì vậy, Nhà nước ta nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy, về hình phạt đối với loại tội phạm này cũng rất nghiêm khắc. Tuy nhiên, để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, các bị cáo đã không nghĩ đến tác hại của loại độc dược này đối với chính bản thân mình mà còn mua bán, tàng trữ và tổ chức sử dụng ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang.
[4] Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau từ trước, được thể hiện qua vai trò của từng bị cáo trong vụ án cụ thể như sau:
Bị cáo Trần Văn H khi đến nhà bị cáo B thì đã mang theo bộ dụng cụ để sử dụng ma túy. Bị cáo là người rủ rê bị cáo B sử dụng ma túy. Sau khi bị cáo B đồng ý thì bị cáo đã mua 200.000đ ma túy. Bị cáo là người đổ ma túy vào cóng thủy tinh để sử dụng. Bị cáo B sau khi được bị cáo H rủ rê sử dụng ma túy thì đã đồng ý sử dụng ma túy tại nhà của bị cáo. Vì vậy, bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo B là phù hợp.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Bị cáo B là người có nhân thân xấu. Năm 2012 bị cáo bị Công an thành phố Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội.
Xét nhân thân của bị cáo H là người chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận quan điểm luận tội và đề xuất mức hình phạt đối với các bị cáo của đại diện Viện kiểm sát huyện L tại phiên tòa, đồng thời, phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân lương thiện, sống biết tuân thủ pháp luật cũng như răn đe phòng ngừa chung.
[7] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị G đã nhận lại điện thoại. Tại phiên Tòa hôm nay bà Gia không có ý kiến và yêu cầu gì. Vì vậy, hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì ngoài hình phạt chính ra, các bị còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Xét thấy các bị cáo đều là người sử dụng ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[9] Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo H. Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Nên đề nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện L sẽ tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý sau.
[10] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án do Cơ quan điều tra bàn giao sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà gồm: 01 hộp giấy được niêm phong bên trong có 01 bật lửa tự chế màu xanh có gắn ống kim loại hình trụ tròn màu trắng bạc; 01 bật lửa màu xanh; 01 chai nhựa có nắp màu xanh trên nắp đục 02 lỗ, một lỗ gắn một ống hút màu cam; 01 đoạn ống nhựa bị cắt vát 01 đầu và một đầu hàn kín; 01 vật bằng kim loại có đầu sắc nhọn phía trên có tay cầm màu đỏ bên ngoài được dán giấy niêm phong có chữ ký ghi tên Hoàng Công P, Nguyễn Tiến L, Phan Trọng Đ, Nguyễn Văn B, Trần Văn H, Nguyễn Văn T1 và dấu tròn đỏ của công an xã G, huyện L. 01 phong bì được niêm phong có chữ ký ghi họ tên Phạm Thị D, Lại Thanh Anh T2, Hoàng Công P và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K công an tỉnh L đựng bao gói vật chứng gửi giám định: Bao gồm: 01 phong bì bưu điện đựng một ống thủy tinh được uốn cong được cuốn bằng giấy mềm màu trắng, một đầu có dạng bầu tròn hở và 01 phong bì bưu điện đựng một gói nylon một đầu bị hở được quấn bằng giấy mềm màu trắng. 01 phong bì được niêm phong bên trong đựng sim số 0325.565.323 bên ngoài có chữ ký ghi tên Hoàng Công P, Trần Văn H và dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT công an huyện L. Đây là tang vật của vụ án nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Trần Văn H; bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/9/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/9/2024.
-
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Tuyên:
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 hộp giấy được niêm phong bên trong có 01 bật lửa tự chế màu xanh có gắn ống kim loại hình trụ tròn màu trắng bạc; 01 bật lửa màu xanh; 01 chai nhựa có nắp màu xanh trên nắp đục 02 lỗ, một lỗ gắn một ống hút màu cam; 01 đoạn ống nhựa bị cắt vát 01 đầu và một đầu hàn kín; 01 vật bằng kim loại có đầu sắc nhọn phía trên có tay cầm màu đỏ bên ngoài được dán giấy niêm phong có chữ ký ghi tên Hoàng Công P, Nguyễn Tiến L, Phan Trọng Đ, Nguyễn Văn B, Trần Văn H, Nguyễn Văn T1 và dấu tròn đỏ của công an xã G, huyện L.
- - 01 phong bì được niêm phong có chữ ký ghi họ tên Phạm Thị D, Lại Thanh Anh T2, Hoàng Công P và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K công an tỉnh L đựng bao gói vật chứng gửi giám định: Bao gồm: 01 phong bì bưu điện đựng một ống thủy tinh được uốn cong được cuốn bằng giấy mềm màu trắng, một đầu có dạng bầu tròn hở và 01 phong bì bưu điện đựng một gói nylon một đầu bị hở được quấn bằng giấy mềm màu trắng. 01 phong bì được niêm phong bên trong đựng sim số 0325.565.323 bên ngoài có chữ ký ghi tên Hoàng Công P, Trần Văn H và dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT công an huyện L.
(Tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà).
-
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/02/2025) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Dũng |
Bản án số 22/2025/HS - ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ - TỈNH LÂM ĐỒNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 22/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Huy và Bắc - Tổ chức sử dung trái pheops chất ma túy
