Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày: 13-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Thắm;
  • 2. Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương

tham gia phiên toà: Ông Đỗ Minh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 20 25 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HS ngày 07/02/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1986 tại tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ thường trú: Ấp A, xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1965; bị cáo có vợ tên Thạch Thị Thanh P, sinh năm 1982 và 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:

Ngày 13/4/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng. Bị cáo H chấp hành quyết định tại Cơ sở cai nghiện Ma túy Bảo trợ xã hội P1 đến ngày 30/7/2018 thì chấp hành xong.

Ngày 18/9/2019, bị Tòa án nhân dân quận 8, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng. Bị cáo H chấp hành quyết định tại Cơ sở cai nghiện Ma túy Bảo trợ xã hội P2 đến ngày 01/01/2021 thì chấp hành xong.

Ngày 30/6/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 15/01/2023. Bị cáo H chưa chấp hành án, đã chấp hành xong phần án phí hình sự và bồi thường dân sự ngày 07/8/2023.

Ngày 09/01/2024, bị Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 20/8/2023. Tổng hợp hình phạt bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành là 04 năm 03 tháng, bị cáo chưa chấp hành xong phần án phí hình sự và bồi thường dân sự.

Ngày 20/8/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Tây Ninh bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã T đến ngày 27/02/2024 thì bị cáo H đến chấp hành án tại Trại giam P3. Ngày 23/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B có Công văn đề nghị Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố B trích xuất bị cáo Nguyễn Văn H từ Trại giam P3 đến tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B để phục vụ điều tra cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Đặng Văn L, sinh năm 1976; địa chỉ thường trú: Ấp X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; địa chỉ tạm trú: Khu phố K, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị N, sinh năm 1977; đăng ký thường trú: Khu phố R, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng 16 giờ ngày 07/3/2023, H đang ở nhà tại ấp A, xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh thì nảy sinh ý định đi tìm tài sản trộm cắp đem bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên đi bộ đến bến đò Rạch Bắp, xã (nay là phường) A, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương, rồi đón xe grab đến khu vực ấp K, xã (nay là phường) An Điền để tìm tài sản sơ hở trộm cắp. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H đi bộ vào một hẻm cụt (không rõ tên) cạnh đường Đ, đến trước nhà của ông Đặng Văn L thuê ở thì H nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future F1, biển số 68M1-199.07, số khung: 5388EZ098806, số máy: JC54E3153676 của ông L đang dựng ngoài hiên nhà, không có người trông coi, bên ngoài nhà không có hàng rào và cổng. H đứng quan sát thấy bên trong nhà đóng cửa nên H đi vào thì thấy chìa khóa vẫn còn cắm trên xe nên H lén lút đi đến dắt xe ra đường, rồi mở chìa khóa xe đề máy điều khiển xe chạy theo đường lộ 7A để đến bến đò Rạch Bắp. Trên đường đi, H nhặt được biển số xe mô tô 61G1-499.75 vứt cạnh đường nên tháo biển số 68M1-199.07 ra vứt bỏ rồi gắn biển số 61G1-499.75 vào. Sau đó, H điều khiển xe mô tô trộm được của anh L đem về nhà mình cất giấu. Ngày 20/8/2023, H sử dụng xe mô tô trộm được của anh L thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại thị xã T, tỉnh Tây Ninh thì bị lực lượng Công an thị xã T bắt giữ tang vật cùng phương tiện.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn H đã khai nhận trộm xe mô tô biển số 68M1-199.07, có số khung: 5388EZ098806, số máy: JC54E3153676 của ông Đặng Văn L tại địa bàn thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) Bến Cát giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future F1, có số khung: 5388EZ098806, số máy: JC54E3153676.

Theo Kết luận định giá tài sản số 15 ngày 05/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Future F1, có số khung: 5388EZ098806, số máy: JC54E3153676 trị giá 18.125.000 đồng.

Đối với bị hại ông Đặng Văn L: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 07/3/2023, anh L điều khiển xe mô tô biển số 68M1-199.07 đi làm về tại nhà thuê thuộc ấp K, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Khi về đến nhà, anh L dắt xe mô tô biển số 68M1-199.07 vào để ngoài hiên rồi đi vào nhà đóng cửa ngủ, trên xe vẫn cắm sẵn chìa khóa. Đến khoảng 06 giờ sáng ngày 08/3/2023, anh Lâm thức dậy thì phát hiện xe mô tô biển số 68M1-199.07 đã bị mất trộm. Sau đó, anh L đã đến Công an xã (nay là phường) An Điền trình báo vụ việc.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của H phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

- Về xử lý vật chứng: Ngày 22/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả xe mô tô nhãn hiệu Honda Future F1, số khung: 5388EZ098806, số máy: JC54E3153676 cho ông Đặng Văn L. Ông L không có yêu cầu gì đối với bị cáo H.

Đối với biển số xe mô tô 61G1-499.75, qua xác minh biển số này được cấp cho xe mô tô Honda Wave RSX do chị Hồ Thị N đứng tên đăng ký. Qua làm việc, chị N khai: Khoảng năm 2022, do thấy xe đã cũ nên chị đã bán xe này lại cho chủ một tiệm phế liệu (không rõ tên) cạnh đường lộ 7A, thuộc xã (nay là phường) A, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương.

Tại Cáo trạng số 28/CT-VKS-BC ngày 09/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như nội dung Cáo trạng nêu và không có ý kiến gì khác.

Tại phần tranh luận:

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trình bày luận tội:

  • - Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tại Bản Cáo trạng số 28/CT-VKSBC ngày 09/01/2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn H về tội: “Trộm cắp tài sản”; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015

(đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã xử lý vật chứng, giao trả xe mô tô hiệu Honda Future F1, số khung: 5388EZ098806, số máy: JC54E3153676 cho ông Đặng Văn L là chủ sở hữu hợp pháp. Ông L không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết. Đối với Biển số xe mô tô 61G1 - 499.75, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Bị cáo không bào chữa, không phát biểu ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Văn H: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 17 giờ ngày 07/3/2023, tại căn nhà (không số) nằm trong hẻm cụt, cạnh đường lộ ĐT 748, thuộc ấp (nay là khu phố) Kiến Điền, xã (nay là phường) A, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương, Nguyễn Văn H đã có hành vi lén lút lấy trộm xe mô tô hiệu Honda Future F1, biển số 68M1-199.07, trị giá 18.125.000 đồng của ông Đặng Văn L. Đến ngày 20/8/2023, H sử dụng xe mô tô trộm được của ông L làm phương tiện trộm cắp tài sản tại thị xã T, tỉnh Tây Ninh thì bị lực lượng Công an thị xã T bắt giữ tang vật cùng phương tiện. Hành vi của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Do đó, Cáo trạng số 28/CT-VKS-BC ngày 09/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo H với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tính chất: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ điều kiện nuôi sống bản thân từ nguồn thu nhập hợp pháp nhưng vì tham lam, lười lao động nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để có tiền sử dụng cho mục đích cá nhân. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, biết rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là quân nhân xuất ngũ theo Quyết định số 036 ngày 02/02/2027 của Trung đoàn BB4 thuộc Sư đoàn BB5 nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.4] Về nhân thân: Ngày 13/4/2017, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng; ngày 18/9/2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận 8, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng; ngày 30/6/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 15/01/2023 và ngày 09/01/2024, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 20/8/2023. Qua đó cho thấy thái độ xem thường pháp luật của bị cáo nên cần phải có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ dài để cải tạo, giáo dục để trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã xử lý vật chứng, giao trả xe mô tô hiệu Honda Future F1, số khung: 5388EZ098806, số máy: JC54E3153676 cho ông Đặng Văn L là chủ sở hữu hợp pháp. Ông L không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết. Đối với Biển số xe mô tô 61G1 - 499.75 cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt và đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận hận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Điều 106, Điều 260, Điều 299, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về trách nhiệm hình sự và hình phạt:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm tù.

    Căn cứ Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 04 năm 03 tháng tù, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 20/8/2020 và được khấu trừ vào thời gian bị cáo đã bị tạm giam theo Bản án số 04/2024/HS – ST ngày 09/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

  2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với Biển số xe mô tô 61G1 - 499.75.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/02/2025 giữa chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát với Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương).

  3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS TP Bến Cát;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo H phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger