Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày: 13 - 02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thanh Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Quốc Tuấn
  2. Ông Dư Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Bích Ngọc – Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Minh Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 188/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Ngô Trung H, sinh ngày 13 tháng 11 năm 1987; tại tỉnh Sóc Trăng; nơi thường trú: số B, đường L, Khóm B, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Long C và bà Ngô Thị Tuyết H1; có vợ, 02 người con; tiền án: không; tiền sự: không; về nhân thân: vào ngày 27/10/2004, bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Sóc Trăng ra quyết định đưa vào Trường G1, thời gian chấp hành 24 tháng; ngày 09/6/2009, bị Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29 tháng 3 năm 2024 cho đến nay. (có mặt)

- Bị hại: ông Văn Công L, sinh năm 1958; địa chỉ: số D, đường P, Khóm F, Phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2020, do cần tiền tiêu xài nên bà Văn Thị Bạch N vay tiền của Ngô Trung H nhiều lần với tổng số tiền 170.000.000 đồng, mỗi lần vay từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 60%/tháng, khi vay tiền chỉ thỏa thuận bằng miệng chứ không có giấy tờ ghi nhận.

Đến năm 2021, do không có khả năng đóng lãi, nên N nhờ cha ruột là ông Văn Công L đứng ra trả nợ cho H thay N. Do không có tiền, nên ông L đến gặp bị cáo H vay tiền để đóng lãi cho N, ông L vay của H nhiều lần, mỗi lần vay từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, với tổng số tiền vay khoảng 150.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 60%/tháng, khi vay tiền chỉ thỏa thuận bằng miệng chứ không có giấy tờ ghi nhận.

Đến tháng 4 năm 2022, ông L không có khả năng chi trả nên H gộp tiền gốc và tiền lãi của ông L với tiền vay, tiền lãi của N với tổng số tiền là 1.000.000.000 đồng và buộc ông L trả cho H mỗi tháng 25.000.000 đồng, không tính lãi đến khi hết nợ 1.000.000.000 đồng.

Khi ông L không có tiền trả, H tìm ông L đe dọa đánh, chửi bới khiến ông L hoang mang, lo sợ nên ngày 29 tháng 4 năm 2022 ông L uống thuốc an thần tự tử, nhưng được gia đình kịp thời phát hiện đưa đi cấp cứu.

Sau khi xuất viện ông L lo sợ H cho người tìm và đánh nên bỏ địa phương đến thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu để tránh mặt. Từ ngày 01 tháng 6 năm 2022 đến ngày 05 tháng 6 năm 2022, H sử dụng số điện thoại 0961.883.xxx nhắn tin qua tin nhắn SMS cho ông L đến số điện thoại 0949.549.xxx để đe dọa như: "Trong tuần này không đem tiền trả cho tui nó tạt a xit con cháu may" có ý nghĩa là trong tuần ông L không đem tiền đến trả thì cho người tạt a xít con cháu của ông L; "Bữa nay ko tra tien tao doi nhẫn xác con cháu may" có ý nghĩa là bữa nay không trả tiền cho H thì ông L đợi nhận xác con cháu của ông L; "Bữa nay ko tra tien tao doi nhận xác con cháu may", có nghĩa là bữa nay ông L không trả tiền sẽ đợi nhận xác con cháu ông L, "M ko đem tiên trả cho con cháu ông đi chung một lượt" có ý nghĩa là ngày mai không đem tiền trả cho H thì H cho con cháu ông L đi chung một lượt; "Me may cha con may giỡn mặt với tao" có ý nghĩa là chửi ông Lý G mặt với H. Từ những lời hăm dọa của H làm ông L và gia đình rất hoang mang, lo sợ H sẽ dùng vũ lực gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe và gây thương tích cho con, cháu của ông L nhằm mục đích để đòi tiền ông L.

Đến ngày 21 tháng 6 năm 2022, ông Văn Công T cung cấp đoạn camera, ông T cho biết H cho người tạt nước sơn tại Công ty TNHH V có địa chỉ số A, đường M, Khóm D, Phường I, thành phố S (do con ruột của ông L là ông Văn Công H2 làm giám đốc và ông Văn Công T làm Phó giám đốc, trực tiếp quản lý) vì bản thân ông T và gia đình không có mâu thuẫn với ai chỉ có ông L nợ tiền của H. Ngoài ra, H nhiều lần đến nhà ông T tại số D, đường P, Khóm F, Phường I, thành phố S (nay là Phường A, thành phố S) để tìm ông L chửi bới, đe dọa để đòi tiền. Qua kiểm tra đoạn camera tại nhà số D, đường P, Khóm F, Phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng do ông Văn Công T cung cấp như sau:

- Vào lúc 17 giờ 21 phút, ngày 13 tháng 9 năm 2022, H đến nhà số D, đường P tìm ông L và chửi "đụ má ông ra nói chuyện cho đàng hoàng, đụ má tui cho tụi nó xuống nữa đó".

- Đến 12 giờ 43 phút, ngày 17 tháng 9 năm 2022, H đến nhà số D, đường P và nói "ông thiếu tui đúng một tỷ đó, không phải ông chết rồi là tiền đó trôi", "chứ ổng núp hoài núp được suốt đời không", "đụ má nhà mấy căn bán trả người ta đi", "phải đợt đó tự tử chết mẹ đi thì dễ quá rồi".

- Đến 13 giờ 17 phút ngày 21 tháng 9 năm 2022, H tiếp tục đi cùng 02 người nam đến nhà số D, đường P đề tìm ông L nhưng không gặp được ông L.

Do H nhắn tin đe dọa tạt a xít, đe dọa gây nguy hiểm đến tính mạng con, cháu của ông L, nên đến ngày 25 tháng 10 năm 2022 ông L đã mượn số tiền 300.000.000 đồng của ông Văn Công T để trả cho H và sau đó trình báo vụ việc đến Công an.

Về vật chứng của vụ án, Cơ quan điều tra tạm giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu GUIDA, màu nâu, biển số 83P3-888.30; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, bên trong có 02 sim: số sim 1: 8984 04800 00668 37415, số sim 2: 8984 04800 00649 23933 đã qua sử dụng, bị hở keo mặt lưng đã được niêm phong ký hiệu "ĐT HIÊU 1"; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu trắng, bên trong có 02 sim: số sim 1: 89840 48000 91080 3255, số sim 2: 89840 48000 91145 8851 đã được niêm phong ký hiệu "ĐT HIÊU 2"; Tiền Việt Nam 151.838.000 đồng; 02 (hai) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, không đo kích thước; 03 (ba) lắc tay bằng kim loại màu vàng, không đo kích thước; 05 (năm) chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, trong đó 03 chiếc nhẫn đính đá màu xanh và 02 chiếc nhẫn đính đá màu trắng đã được niêm phong ký hiệu "KLV"; 01 (một) cuốn tập học sinh màu xanh, trắng có chữ GOOD BOOK, bên trong có ghi chữ, số bằng mực màu xanh có đánh số trang từ 01 đến 12, đã được niêm phong ký hiệu "TẬP HS"; 01 (một) quyển sổ tay bìa màu xanh, đã được niêm phong ký hiệu "NS3.1908569" của bị cáo Ngô Trung H.

Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu VIVO, bên trong có sim số điện thoại 0359.971.xxx, đã qua sử dụng, đã được niêm phong ký hiệu "PS3:2022926" và 01 (một) thẻ ATM (thẻ đa năng) ngân hàng Đ số thể 9704061847314897, đã được niêm phong ký hiệu "NS3.23004220" của bà Trần Cẩm D.

Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, bên trong có sim số 0949549202 đã được niêm phong ký hiệu "ĐT LY" và 01 (một) đĩa DVD bên trong có 22 (hai mươi hai) đoạn video và 10 (mười) hình ảnh của ông Văn Công L.

Tạm giữ 01 (một) đĩa DVD bên trong có 05 (năm) đoạn ghi âm định dạng AMR và 01 (một) quyền sổ tay màu xanh, bên trong có ghi chữ, số bằng mực màu xanh được đánh số trang từ 01 đến 06 của bà Lê Thị Cẩm H3.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trao trả lại 02 (hai) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, không đo kích thước; 03 (ba) lắc tay bằng kim loại màu vàng, không đo kích thước; 05 (năm) chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, trong đó 03 chiếc nhẫn đính đá màu xanh và 02 chiếc nhẫn đính đá màu trăng; tiền Việt Nam: 145.000.000 đồng cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Ngô Thị Tuyết H1.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại ông Văn Công L không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không đặt ra xem xét.

Về trách nhiệm của những người liên quan: đối với hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, trong quá trình điều tra bị cáo không thừa nhận có cho các bị hại vay tiền, khi đó các bị hại trình bày bị cáo H cho vay nhiều lần, với lãi suất cao gấp nhiều lần so với quy định của pháp luật, do đến nay chưa đủ căn cứ để khởi tố bị cáo về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự, nên Cơ quan điều tra đã tách vụ án để điều tra tiếp tục.

Cáo trạng số 189/CT-VKS-TPST ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Ngô Trung H về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 170 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Ngô Trung H về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 08 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: chuyển các vật chứng là Tiền Việt Nam 6.838.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, bên trong có 02 sim: số sim 1: 8984 04800 00668 37415, số sim 2: 8984 04800 00649 23933 đã qua sử dụng, bị hở keo mặt lưng đã được niêm phong ký hiệu "ĐT HIÊU 1"; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu trắng, bên trong có 02 sim: số sim 1: 89840 48000 91080 3255, số sim 2: 89840 48000 91145 8851 đã được niêm phong ký hiệu "ĐT HIỆU 2", 01 (một) đĩa DVD bên trong có 05 (năm) đoạn ghi âm định dạng AMR và 01 (một) quyển sổ tay màu xanh, bên trong có ghi chữ, số bằng mực màu xanh được đánh số trang từ 01 đến 06 của bà Lê Thị Cẩm H3; 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu VIVO, bên trong có sim số điện thoại 0359.971.xxx, đã qua sử dụng, đã được niêm phong ký hiệu "PS3:2022926" và 01 (một) thẻ ATM (thẻ đa năng) ngân hàng Đ số thể 9704061847314897, đã được niêm phong ký hiệu "NS3.23004220" của bà Trần Cẩm D; 01 (một) đĩa DVD bên trong có 22 (hai mươi hai) đoạn video và 10 (mười) hình ảnh của ông Văn Công L; 01 (một) cuốn tập học sinh màu xanh, trắng có chữ GOOD BOOK, bên trong có ghi chữ, số bằng mực màu xanh có đánh số trang từ 01 đến 12, đã được niêm phong ký hiệu "TẬP HS"; 01 (một) quyển sổ tay bìa màu xanh, đã được niêm phong ký hiệu "NS3.1908569" của Ngô Trung H cho Cơ quan điều tra Công an thành phố S để tiếp tục làm rõ và sẽ xử lý sau.

Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu GUIDA, màu nâu, biển số 83P3-888.30,

Trả lại cho ông L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, bên trong có sim số 0949549202 đã được niêm phong ký hiệu "ĐT LY".

Về án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận cáo trạng đã truy tố bị cáo là đúng tội; bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn, hối cải và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

[2] Nhận thấy, trong quá trình điều tra, truy tố thì bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, tại phiên toà sơ thẩm thì bị cáo Ngô Trung H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận hành vi của bị cáo là sai trái với pháp luật. Lời thừa nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau: từ ngày 01 tháng 6 năm 2022 đến ngày 05 tháng 6 năm 2022, H sử dụng số điện thoại 0961.883.xxx nhắn tin đe dọa ông L như: trong tuần ông L không đem tiền đến trả thì cho người tạt a xít con cháu của ông L, bữa nay không trả tiền cho H thì ông L đợi nhận xác con cháu của ông L, bữa nay ông L không trả tiền sẽ đợi nhận xác con cháu ông L, ngày mai không đem tiền trả cho H thì H cho con cháu ông L đi chung một lượt. Ngoài ra, bị cáo H còn đến nhà Văn Công T là con của ông Lý C1 và hăm doạ nhằm mục đích cho ông trả tiền. Từ việc bị cáo Ngô Trung H nhắn tin đe doạ dẫn đến ông L uống thuốc tự tử nhưng được phát hiện kịp thời nên chưa có hậu quả chết người xảy ra và sau đó ông L đi vay tiền để đưa cho bị cáo H 300.000.000 đồng vào ngày 25/10/2022. Cho nên, hành vi của bị cáo Ngô Trung H đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 170 của Bộ luật Hình sự.

[3] Bị cáo là người có đầy đủ nhận thức và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu và nhân thân của bị hại được pháp luật bảo vệ. Cho nên, cần phải xử lý nghiêm, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

[4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, cũng cần phải xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

  • [4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
  • [4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: mặc dù trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhưng tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải và thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có trình độ học vấn thấp đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: bị hại ông Văn Công L không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng của vụ án:

  • [6.1] Đối với các vật chứng: Tiền Việt Nam 6.838.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, bên trong có 02 sim: số sim 1: 8984 04800 00668 37415, số sim 2: 8984 04800 00649 23933 đã qua sử dụng, bị hở keo mặt lưng đã được niêm phong ký hiệu "ĐT HIÊU 1"; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu trắng, bên trong có 02 sim: số sim 1: 89840 48000 91080 3255, số sim 2: 89840 48000 91145 8851 đã được niêm phong ký hiệu "ĐT HIÊU 2", 01 (một) đĩa DVD bên trong có 05 (năm) đoạn ghi âm định dạng AMR và 01 (một) quyển sổ tay màu xanh, bên trong có ghi chữ, số bằng mực màu xanh được đánh số trang từ 01 đến 06 của bà Lê Thị Cẩm H3; 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu VIVO, bên trong có sim số điện thoại 0359.971.xxx, đã qua sử dụng, đã được niêm phong ký hiệu "PS3:2022926" và 01 (một) thẻ ATM (thẻ đa năng) ngân hàng Đ số thể 9704061847314897, đã được niêm phong ký hiệu "NS3.23004220" của bà Trần Cẩm D; 01 (một) đĩa DVD bên trong có 22 (hai mươi hai) đoạn video và 10 (mười) hình ảnh của ông Văn Công L; 01 (một) cuốn tập học sinh màu xanh, trắng có chữ GOOD BOOK, bên trong có ghi chữ, số bằng mực màu xanh có đánh số trang từ 01 đến 12, đã được niêm phong ký hiệu "TẬP HS"; 01 (một) quyển sổ tay bìa màu xanh, đã được niêm phong ký hiệu "NS3.1908569" của Ngô Trung H. Nhận thấy, không liên quan đến vụ án này và trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra có tách hành vi cho vay lãi nặng nên cần phải chuyển các vật chứng này cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S để tiếp tục làm rõ và xử lý sau.
  • [6.2] Đối với vật chứng là 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu GUIDA, màu nâu, biển số 83P3-888.30 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần phải trả lại cho bị cáo.
  • [6.3] Đối với vật chứng là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, bên trong có sim số 0949549202 đã được niêm phong ký hiệu "ĐT LY" đây là tài sản cá nhân của ông L nên trả lại cho ông L.

[7] Về án phí sơ thẩm: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, việc áp dụng pháp luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng và mức hình phạt phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 3 Điều 170 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: bị cáo Ngô Trung H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

  1. Xử phạt bị cáo Ngô Trung H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 29 tháng 3 năm 2024.
  2. Về trách nhiệm dân sự: bị hại ông Văn Công L không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
  3. Về xử lý vật chứng:
    1. Đối với các vật chứng: Tiền Việt Nam 6.838.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, bên trong có 02 sim: số sim 1: 8984 04800 00668 37415, số sim 2: 8984 04800 00649 23933 đã qua sử dụng, bị hở keo mặt lưng đã được niêm phong ký hiệu "ĐT HIÊU 1"; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu trắng, bên trong có 02 sim: số sim 1: 89840 48000 91080 3255, số sim 2: 89840 48000 91145 8851 đã được niêm phong ký hiệu "ĐT HIÊU 2", 01 (một) đĩa DVD bên trong có 05 (năm) đoạn ghi âm định dạng AMR và 01 (một) quyển sổ tay màu xanh, bên trong có ghi chữ, số bằng mực màu xanh được đánh số trang từ 01 đến 06 của bà Lê Thị Cẩm H3; 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu VIVO, bên trong có sim số điện thoại 0359.971.xxx, đã qua sử dụng, đã được niêm phong ký hiệu "PS3:2022926" và 01 (một) thẻ ATM (thẻ đa năng) ngân hàng Đ số thể 9704061847314897, đã được niêm phong ký hiệu "NS3.23004220" của bà Trần Cẩm D; 01 (một) đĩa DVD bên trong có 22 (hai mươi hai) đoạn video và 10 (mười) hình ảnh của ông Văn Công L; 01 (một) cuốn tập học sinh màu xanh, trắng có chữ GOOD BOOK, bên trong có ghi chữ, số bằng mực màu xanh có đánh số trang từ 01 đến 12, đã được niêm phong ký hiệu "TẬP HS"; 01 (một) quyển sổ tay bìa màu xanh, đã được niêm phong ký hiệu "NS3.1908569" của Ngô Trung H. Chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S, tỉnh Sóc Trăng tiếp tục làm rõ và xử ly sau đối với .
    2. Trả lại cho bị cáo Ngô Trung H 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu GUIDA, màu nâu, biển số 83P3-888.30.
    3. Trả lại cho ông Văn Công L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, bên trong có sim số 0949549202 đã được niêm phong ký hiệu "ĐT LY".
  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo Ngô Trung H phải chịu là 200.000 đồng.
  5. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND thành phố Sóc Trăng;
  • - Công an thành phố Sóc Trăng;
  • - CQTHAHS – Công an TPST;
  • - Đội Tổng hợp - Công an TPST;
  • - Chi cục THADS TPST;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Văn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự (cưỡng đoạt tài sản)

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cưỡng đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Trung H phạm tội "Cưỡng đoạt tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger