Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/DS-PT

Ngày 11/02/2025

V/v: Tranh chấp quyền

sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Tuân
  • Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế
  • Ông Hoàng Quý Sửu

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thuỷ Ngân, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thuỷ, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 13/01/2025 và ngày 11/02/2025, tại Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 131/2024/TLPT-DS ngày 04/10/2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, do có kháng cáo của nguyên đơn ông Vũ Văn D đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 19/DS-ST ngày 19/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 290/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Vũ Văn D1 năm 1967; địa chỉ: Xóm B, xã B, thành phố S, Thái Nguyên; có mặt.

Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Văn T năm 1968. (vắng mặt)

2. bà Nguyễn Thị T2 sinh năm 1969. (có mặt)

Cùng địa chỉ: Xóm B, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyênvắng mặt ông T1 (có mặt bà T1ngày 13/01/2025; ngày 11/02/2025 bà Tlcó đơn xin xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân xã B: Người đại diện theo pháp luật: Ông Đồng Đức P– chức vụ Chủ tịch UBND; vắng mặt. Uỷ quyền cho bà Mã Thị D2– công chức địa chính xã B; vắng mặt.
  2. Ủy ban nhân dân thành phố S: Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Duy N– chức vụ Chủ tịch UBND; vắng mặt. Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Dương Thị H vụ Phó phòng T19; vắng mặt.
  3. Bà Vũ Thị N1, sinh năm 1963; địa chỉ: Xóm B, xã B, thành phố S, Thái Nguyên; có mặt.
  4. Cụ Hoàng Thị P1sinh năm 1939; địa chỉ: Xóm B, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Vũ Văn D, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị N1 trình bày:

Thửa đất số 117k, tờ bản đồ 96-III, diện tích 832m² là loại đất vườn tại xóm B, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên có nguồn gốc của bố mẹ ông là Cụ Vũ Văn Đ, cụ Nguyễn Thị T10(đều đã chết) tặng cho vợ chồng ông từ năm 2000. Năm 2004 gia đình ông kê khai và được UBND thị xã S(nay là thành phố S giấy CNQSD đất số AA162118 ngày 18/8/2004 mang tên ông (bà) Vũ Văn D.

Thửa đất này giáp ranh với thửa đất số 168, tờ bản đồ 96-II, diện tích 960m² là loại đất màu của vợ chồng ông Nguyễn Văn Thà Nguyễn Thị T2 cũng đã được UBND thị xã S(nay là thành phố S giấy CNQSD đất số AC 633173 ngày 29/9/2005 mang tên ông Nguyễn Văn T3 Nguyễn Thị T1 địa chỉ xóm B, xã B, TP S, Thái Nguyên

Quá trình sử dụng ổn định, không có tranh chấp với ai. Đến năm 2018 ông làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho con thì phát hiện gia đình ông T3 T1xây dựng công trình lấn chiếm sang đất của gia đình ông diện tích 55m², ông đã báo chính quyền địa phương và có đơn đề nghị giải quyết nhưng không thành. Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc gia đình ông T3 T1trả lại cho gia đình ông diện tích đất lấn chiếm 55m² theo bản đồ địa chính. Phần nhà và công trình ông T3 T1xây trên phần diện tích đất lấn chiếm đề nghị tháo dỡ toàn bộ. Trường hợp gia đình bà Tlông Tlùi lại phần đất phía sau kéo dọc theo phần nhà đã xây dựng ra đường thì ông cũng đồng ý giải quyết tình cảm, nếu không đồng ý gia đình ông đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Văn T4 bà Nguyễn Thị T2 trình bày:

Thửa đất ông bà đang sử dụng có nguồn gốc là do bố mẹ của ông T5 cụ Nguyễn Văn Đ1(chết năm 2008), cụ Hoàng Thị P1 sinh năm 1939 cho vợ chồng ông bà sử dụng; khi cho lúc đó đã có nhà xây cấp 4 được bố mẹ ông bà xây dựng năm 1992 để ở và làm quán bán hàng. Năm 2002 vợ chồng ông bà xây dựng nhà hai tầng kiên cố, xây tường rào, làm sân lúc đó ông D17 đến hộ căng dây và xây tường rào làm cùng thợ xây giúp gia đình ông bà. Khi đó ông D3 không có ý kiến gì, nhất trí với hiện trạng, ranh giới thửa đất, gia đình ông bà sinh sống ở ổn định trên đất từ đó. Đến năm 2005 gia đình bà được cấp giấy CNQSD đất số AC 633173 tại thửa đất số 168, tờ bản đồ 96-II, diện tích 960m² là loại đất màu do UBND thị xã S(nay là TP S ngày 29/9/2005 mang tên ông Nguyễn Văn T3 Nguyễn Thị T1Năm 2018, ông D4 gia đình ông bà nói là gia đình ông bà lấn chiếm sang phần đất của gia đình ông D5 quyền địa phương hòa giải nhưng không thành.

Nay ông D6 cầu gia đình ông bà tháo dỡ công trình xây dựng trên đất trả lại phần diện tích khoảng 50m², ông bà không nhất trí vì gia đình ông bà không lấn chiếm đất của gia đình ông D7 dựng nhà sinh sống ổn định từ năm 1992 đến nay.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Cụ Hoàng Thị P1(mẹ của ông T): Gia đình nhà cụ và gia đình cụ Vũ Văn Đ2 gần nhau, giữa hai gia đình có rãnh hào do vợ chồng cụ đào để ngăn cách ranh giới và sử dụng giữa hai gia đình. Năm 1992 gia đình cho vợ chồng con trai là Nguyễn Văn Tvà Nguyễn Thị T7 dụng. Năm 2002 gia đình cụ xây nhà 02 tầng trên nền móng cũ, bên rãnh hào là ranh giới giữa hai gia đình. Từ đó đến nay gia đình vẫn ở ổn định, không ai tranh chấp với ai.

UBND xã B trình bày:

+ Thửa đất 168 tờ bản đồ 96-III: UBND huyện Pcấp GCNQSD đất số vào sổ 0630 cấp ngày 02/5/1996, mang tên cụ Nguyễn Văn Đ3 đó có thửa đất 168 tờ bản đồ 96-III diện tích 960m² đất màu (cấp nguyên thửa theo bản đồ địa chính đo đạc năm 1992).Theo thỏa thuận của các bên được ghi nhận bằng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của cụ N2 ông Nguyễn Văn T3 Nguyễn Thị T1tại thửa đất 168 tờ bản đồ 96-III diện tích 960m² đất màu (có sơ đồ kỹ thuật thửa đất chuyển nhượng kèm theo) được UBND xã Bxác nhận ngày 30/5/2005 và được UBND thị xã Sđã cấp GCNQSDĐ số AC 633173 cấp ngày 29/9/2005 cho ông Nguyễn Văn Thà Nguyễn Thị T2

+ Thửa đất 117k tờ bản đồ 96-III: UBND huyện Pcấp GCNQSD đất số vào sổ 0649 cấp ngày 02/5/1996, mang tên cụ Vũ Văn Đ4 đó có thửa đất 117b tờ bản đồ 96-III diện tích 6950m² đất thổ cư. Căn cứ Đơn xin cấp GCNQSD đất của ông Vũ Văn D8 117k tờ bản đồ 96-III diện tích 832m² (kèm theo trích lục bản đồ thửa đất xin cấp GCNQSD đất - có kích thước các cạnh và chữ ký của các hộ giáp ranh), Biên bản họp gia đình được UBND xã Bxác nhận ngày 07/6/2004. UBND thị xã Sđã cấp GCNQSD đất số vào sổ 00107N, cấp ngày 18/8/2004 cho ông Vũ Văn D9 thửa đất trên.

Theo Văn bản số 37/2024/TB-TA ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, bà T1trình bày năm 1992 vợ chồng bà T1được bố mẹ chồng cho thửa đất 168 tờ bản đồ 96-III, khi đó trên thửa đất đã có nhà cấp 4, năm 2002 bố mẹ chồng xây nhà ở hai tầng kiên cố. Gia đình ông T3 T1đã xây dựng nhà trên thửa đất màu (đã được cấp GCN) là không đúng với quy định của pháp luật. Các hộ gia đình, cá nhân có đất ở tại xã B xây dựng nhà không phải thực hiện thủ tục cấp phép xây dựng nhưng gia đình phải báo cáo UBND xã về việc xây dựng để kiểm tra vị trí xây dựng có đúng đất ở không. Thời điểm bố mẹ ông T3 T1xây dựng nhà ở, UBND xã quản lý không chặt chẽ, thiếu kiểm tra do đó không phát hiện ra công trình xây dựng trái phép trên đất nông nghiệp. Cũng như, khi thực hiện thủ tục tặng cho QSD đất từ bố mẹ sang ông T3 T1UBND xã đã không đi kiểm tra thực tế do thửa đất tặng cho nguyên thửa theo bản đồ địa chính nên không phát hiện ra công trình vi phạm trên đất vì vậy UBND xã tại thời điểm đó chưa xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền. Về tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là ông Vũ Văn D10 bị đơn là ông Nguyễn Văn T4 bà Nguyễn Thị T8 nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định.

- Đại diện UBND thành phố Sông Công trình bày:

Đối với thửa 168 tờ bản đồ 96-II diện tích 960m² đất màu (nguyên thửa theo bản đồ địa chính đo đạc năm 1995), căn cứ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của cụ N2 ông Nguyễn Văn Thà Nguyễn Thị T9 được UBND xã B xác nhận ngày 30/5/2005, UBND thị xã Sđã cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Văn T3 Nguyễn Thị T1theo đúng thoả thuận giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng.

Đối với thửa 117k tờ bản đồ 96-III, trên cơ sở đơn xin cấp GCNQSDĐ của ông Vũ Văn D11 bản họp gia đình ngày 07/5/2004 đã được UBND xã Bxác nhận ngày 07/6/2004 và trích lục bản đồ thửa đất xin cấp GCNQSDĐ (có ghi rõ kích thước các cạnh), UBND thị xã đã cấp GCNQSDĐ cho ông Vũ Văn D12 hồ sơ thiết lập.

Việc gia đình ông T3 T1xây dựng nhà trên đất nông nghiệp (theo văn bản số 36/2024/TB-TA ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công) là không đúng với quy định của pháp luật. Các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại xã B xây dựng công trình không phải xin cấp giấy phép xây dựng nhưng phải thông báo cho UBND cấp xã về việc xây dựng của mình. Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời việc chuyển quyền sử dụng đất trái phép, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép; phát hiện, áp dụng biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời việc xây dựng các công trình trên đất lấn chiếm, đất sử dụng không đúng mục đích ở địa phương và buộc người có hành vi vi phạm khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm theo quy định tại khoản 2 Điều 208 Luật Đất đai năm 2013. Tại thời điểm thiết lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho các hộ, UBND xã Bkhông có văn bản báo cáo về việc sử dụng đất sai mục đích của hộ gia đình, cá nhân có liên quan nên UBND thị xã thời điểm đó (nay là thành phố) không có cơ sở xem xét giải quyết vi phạm theo thẩm quyền. Đề nghị Toà án nhân dân thành phố Sông Công xem xét giải quyết theo quy định.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS-ST ngày 19/8/2024 Tòa án nhân dân thành phố Sông Công đã quyết định:

  1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn D13 việc buộc gia đình ông Nguyễn Văn T4 bà Nguyễn Thị T2 phải tháo dỡ phần nhà và sân trả lại 55m² đất lấn chiếm cho gia đình ông.
  2. Về chi phí tố tụng: Ông Vũ Văn D14 chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 13.000.000 đồng, ông D15 nộp và chi phí xong.
  3. Án phí: Ông Vũ Văn D14 chịu 300.000đ án phí dân dự sơ thẩm nộp Ngân sách nhà nước, được chuyển từ dự phí đã nộp sang theo biên thu số 0000575 ngày 20/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công.

Ngày 26/8/2024 ông Vũ Văn D kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến có quan điểm như sau:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn là hợp lệ được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Văn D; sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận ranh giới giữa các thửa đất tranh chấp theo bản đồ địa chính, công nhận cho bị đơn được sử dụng diện tích đất đã có công trình xây dựng trên đất và phần đất kéo từ góc nhà ra tiếp giáp với đường giao thông, bị đơn có trách nhiệm trả giá trị cho nguyên đơn phần đất được sử dụng; phần đất còn lại buộc bị đơn tháo dỡ tường rào xây trên đất trả lại cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà, xét kháng cáo của ông Vũ Văn D, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thủ tục tố tụng:

  1. Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Vũ Văn D đảm bảo về hình thức và làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. Về sự có mặt, vắng mặt đương sự: Tại phiên toà phúc thẩm, có mặt nguyên đơn, bị đơn ông T4 vắng mặt một số người tham gia tố tụng nhưng đây là phiên toà được mở nhiều lần nên Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về nguồn gốc và quá trình sử dụng diện tích đất tranh chấp:

  1. Thửa đất số 168, tờ bản đồ 96-II, diện tích 960m² là loại đất màu tại xóm B, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyêncó nguồn gốc là của bố mẹ ông T5 cụ Nguyễn Văn Đ1 và cụ Hoàng Thị P1 khai phá từ năm 1960 tặng cho ông Nguyễn Văn Thà Nguyễn Thị T2. Ngày 29/9/2005 ông T3 T1 được UBND thị xã S chứng nhận quyền sử đất. Thửa đất này giáp ranh với thửa 117b tờ bản đồ 96-III có diện tích 9650m² của bố mẹ ông D16 cụ Vũ Văn Đ5 cụ Nguyễn Thị T10
  2. Thửa đất 117k, tờ bản đồ 96-III diện tích 832m² đất vườn tại xóm B, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên UBND thị xã Scấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/8/2004 cho gia đình ông Vũ Văn D17 nguồn gốc là một phần diện tích đất thửa 117b tờ bản đồ 96-III diện tích đất 9650m² của cụ Vũ Văn Đcụ Nguyễn Thị T10(bố mẹ ông D18 cấp giấy chứng nhận quyền sử đất ngày 02/5/1996. Sau khi cụ Đ6, năm 2004 cụ Nguyễn Thị T10 cùng các con họp gia đình phân chia đất trong đó có vợ chồng ông D18 tặng cho 832m² đất. Khi phân chia thửa đất 117b, cán bộ địa chính xã cùng gia đình chỉ chia tách kẻ vẽ theo giấy chứng nhận và bản đồ địa chính đo đạc năm 1986-1987, không đo đạc, chỉnh lý trên bản đồ địa chính. Sau khi được tặng cho, gia đình ông Dsử dụng trồng keo ổn định theo ranh giới thực tế từ đó không có tranh chấp cho đến năm 2018 gia đình ông D19 thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho con, thấy một phần đất (khoảng 55m²) gia đình ông T3 T1xây dựng nhà và sân nằm vào thửa 117k, tờ bản đồ 96-III nên mới sẩy ra tranh chấp.

Về hiện trạng sử dụng đất:

  1. Trước năm 1992 gia đình cụ Đ1(bố ông T4 gia đình cụ Đ(bố ông D20 nhất ranh giới là rãnh giao thông hào do gia đình cụ Đ1đào. Các bên sử dụng ổn định theo ranh giới thực tế không có tranh chấp. Năm 1992 gia đình ông T xây dựng nhà trên phần đất của mình, năm 2002 gia đình ông T11 nhà hai tầng mới và tường rào xung quanh.
  2. Như vậy, ranh giới theo hiện trạng giữa các thửa đất các đương sự tranh chấp được hình thành từ năm 2002 khi gia đình ông T11 nhà và xây tường rào. Về ranh giới pháp lý, giữa thửa đất số 117 của gia đình ông D21 thửa 168 của gia đình ông T12 xác lập theo bản đồ địa chính đo đạc năm 1992 đến năm 2002 gia đình ông T13 xây dựng nhà 02 tầng và tường rào trên phần đất tiếp giáp của gia đình ông D

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ:

  1. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đối chiếu hiện trạng sử dụng đất với bản đồ địa chính thấy: về hình thể các thửa đất, các cạnh của các thửa đất tiếp giáp với nhau và tiếp giáp với đường giao thông phù hợp với nhau. Hiện trạng sử dụng đất của gia đình ông T14 sang thửa đất số 117 của gia đình ông D16 55 m2.
  2. Bị đơn cho rằng, năm 2002 xây dựng nhà 02 tầng và tường rào đúng với ranh giới theo hiện trạng móng nhà cấp 4 xây dựng năm 1992, nhưng các dấu mốc của móng nhà cấp 4 xây dựng năm 1992 hiện nay không còn và các đương sự cũng không xác định được nằm ở vị trí nào. Trong khi đó, ranh giới theo bản đồ địa chính được thiết lập từ năm 1992, trước thời điểm các bên thiết lập ranh giới theo hiện trạng năm 2002 là 10 năm và không có căn cứ nào xác định ranh giới theo bản đồ địa chính không phù hợp với hiện trạng sử dụng đất. Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đòi bị đơn trả phần đất lấn chiếm theo bản đồ địa chính và nhận định ranh giới thực tế bị đơn xây nhà 02 tầng, xây tường rào đúng vào vị trí móng nhà cấp 4 xây dựng năm 1992 và căn cứ về việc thiếu hụt diện tích được cấp là không có căn cứ.
  3. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy ranh giới giữa 02 thửa đất các đương sự tranh chấp phải căn cứ vào bản đồ địa chính xác lập năm 1992. Đối chiếu hiện trạng sử dụng đất với bản đồ địa chính có căn cứ xác định gia đình ông T3 T1 lấn chiếm 55m² sang thửa đất số 117k, tờ bản đồ 96-III của gia đình ông D, vì vậy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D13 việc gia đình ông T3 T1lấn chiếm đất.
  4. Về hiện trạng sử dụng đất: Gia đình ông T3 T1làm nhà lấn một phần góc nhà và phần tường xây sang thửa đất của gia đình ông DTuy nhiên, thời điểm xây dựng nhà gia đình ông D24 có ý kiến gì. Để đảm bảo kết cấu của công trình xây dựng và mỹ quan, cần giao cho gia đình ông Tsử dụng phần đất trên có một phần nhà đã xây và từ điểm cách góc nhà 20 cm kéo ra đến đường giao thông là 33,6 m2, ông T3 T1có trách nhiệm thanh toán giá trị 33,6 m2 đất theo kết luận định giá tài sản; phần còn lại 21,4 m2 buộc gia đình ông T3 T1tháo dỡ công trình xây dựng trả lại cho gia đình ông D(có sơ đồ chi tiết kèm theo).

Về án phí:

  1. Án phí phúc thẩm: Ông D kháng cáo được chấp nhận, nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
  2. Án phí sơ thẩm: Ông T3 T1phải chịu án phí có giá ngạch tương ứng với giá trị diện tích đất trả cho ông D

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Văn D; sửa bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS-ST ngày 19/8/2024 Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên như sau:

Căn cứ Điều 164, 166 Bộ luật dân sự; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Văn D13 việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn Thà Nguyễn Thị T2
    1. Buộc ông Nguyễn Văn Thà Nguyễn Thị T15 trách nhiệm tháo dỡ công trình xây dựng trên đất trả lại cho ông Vũ Văn D22 Vũ Thị N121,4 m2 đất thuộc thửa 117k, tờ bản đồ 96-III diện tích 832m² đất vườn tại xóm B, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên UBND thị xã (nay là thành phố) Sông Công cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/8/2004 mang tên hộ ông (bà) Vũ Văn D(được xác định tại các điểm: 1, 2, 3, S, R, 1 trên bản vẽ hiện trạng đo vẽ tháng 01/2025. Có bản vẽ hiện trạng kèm theo).
    2. Ông Nguyễn Văn Thà Nguyễn Thị T16 sử dụng diện tích đất 33,6 m2 thuộc thửa 117k, tờ bản đồ 96-III diện tích 832m² đất vườn tại xóm B, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên UBND thị xã (nay là thành phố) Sông Công cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/8/2004 mang tên ông Vũ Văn D (được xác định tại các điểm: A, R, S, 4, A trên bản vẽ hiện trạng đo vẽ tháng 01/2025. Có bản vẽ hiện trạng kèm theo).
    3. Ông Nguyễn Văn Thà Nguyễn Thị T15 trách nhiệm thanh toán giá trị 33,6 m2 đất cho ông Vũ Văn D22 Vũ Thị N1số tiền 2.049.600 đồng.
  2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Văn Thà Nguyễn Thị T17 trả cho ông Vũ Văn D23 phí tố tụng 13.000.000 đồng.

    Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành xong. Mức lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền chậm trả. Trường hợp không thỏa thuận được về lãi suất chậm trả thì được xác định theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.

  3. Về án phí:
    1. Án phí sơ thẩm: Ông Vũ Văn D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả ông D300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000575 ngày 20/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Ông Nguyễn Văn Thà Nguyễn Thị T18 chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
    2. Án phí phúc thẩm: Ông Vũ Văn D24 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; hoàn trả ông D 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu số 0000746, ngày 28/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND huyện Phú Lương;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Lương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Minh Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/DS-PT ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 22/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Văn D; sửa bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS-ST ngày 19/8/2024 Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên như sau: Căn cứ Điều 164, 166 Bộ luật dân sự; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger